BẢN TIN THƯ VIỆN

Sách như một cánh cổng diệu kỳ đưa ta đến những chân trời của lý tưởng, khát vọng và bình yên. Cuộc đời ta thay đổi theo hai cách: Qua những người ta gặp và qua những cuốn sách ta đọc. Đọc sách là nếp sống, là một nét đẹp văn hóa và là nguồn sống bất diệt. Việc đọc cũng giống như việc học. Có đọc, có học thì mới có nhân. Thói quen đọc sách chỉ được hình thành và duy trì khi chữ tâm và sách hòa quện làm một. Người đọc sách là người biết yêu thương bản thân mình và là người biết trân trọng cuộc sống. Việc đọc một cuốn sách có đem lại cho bạn lợi ích hay không, phụ thuộc vào thái độ và tâm thế của bạn khi đọc.

HỌC LIỆU ĐIỆN TỬ

CẨM NANG KIẾN THỨC THÚ VỊ

VIDEO GIỚI THIỆU SÁCH CỦA THƯ VIỆN

VĂN HỌC - CẢM NHẬN TÁC PHẨM

THƯ VIỆN SỐ

Ảnh ngẫu nhiên

A273.jpg Z6092185087755_34a5fbcae2e80bcb78ce2c88375c8c47.jpg Z5905520939947_cb35f10fe7eb60fcb62518485d8ee0dc.jpg Z5905520905513_dd23d4919714cc79e802d044b627f9f1.jpg Z5905520921007_489b9220f295c7e969d77a8da3861804.jpg CangBien.jpg Bandovietnam.jpg DBSCL.jpg

GỐC NGHỆ THUẬT

KIẾN THỨC LỊCH SỬ - TỰ HÀO VIỆT NAM

Thống kê

  • truy cập   (chi tiết)
    trong hôm nay
  • lượt xem
    trong hôm nay
  • thành viên
  • Thành viên trực tuyến

    1 khách và 0 thành viên

    Hồ Chí Minh một con người, một dân tộc, một thời đại, một sự nghiệp

    Lịch sử Nam tiến của dân tộc Việt

    Wait
    • Begin_button
    • Prev_button
    • Play_button
    • Stop_button
    • Next_button
    • End_button
    • 0 / 0
    • Loading_status
    Nhấn vào đây để tải về
    Báo tài liệu có sai sót
    Nhắn tin cho tác giả
    (Tài liệu chưa được thẩm định)
    Nguồn:
    Người gửi: Nguyễn Thị Hoa
    Ngày gửi: 18h:40' 05-04-2024
    Dung lượng: 252.7 KB
    Số lượt tải: 2
    Số lượt thích: 0 người
    https://thuviensach.vn

    Tên sách : LỊCH-SỬ NAM TIẾN CỦA DÂN TỘC VIỆT NAM
    Tác giả : TRÚC-KHÊ
    Nhà xuất bản : NGÀY MAI
    -----------------------Nguồn sách : tusachtiengviet.com
    Đánh máy : Linh2017
    Kiểm tra chính tả : Ngô Thanh Tùng,
    Võ Băng Châu, Dương Văn Nghĩa
    Biên tập ebook : Thư Võ
    Ngày hoàn thành : 27/09/2018

    https://thuviensach.vn

    Ebook này được thực hiện theo dự án phi lợi nhuận « SỐ HÓA 1000
    QUYỂN SÁCH VIỆT MỘT THỜI VANG BÓNG » của diễn đàn TVE4U.ORG
    Cảm ơn tác giả TRÚC-KHÊ và nhà xuất bản NGÀY MAI đã chia sẻ với
    bạn đọc những kiến thức quý giá.

    https://thuviensach.vn

    TRÚC-KHÊ

    LỊCH-SỬ NAM TIẾN
    CỦA DÂN TỘC VIỆT NAM
    (VIỆT-NAM DÂN-TỘC NAM-TIẾN SỬ)
    NHÀ XUẤT BẢN NGÀY MAI
    112, HÀNG BÔNG
    HANOI

    https://thuviensach.vn

    ĐỀ-TỪ
    Gấm vóc non sông một giải liền,
    Máu đào xương trắng điểm tô lên.
    Cơ trời dù đổi trò tang hải,
    Mặt đất chưa tàn nghiệp tổ tiên.
    Có nước có dân đừng rẻ rúng,
    Muốn còn muốn sống phải đua chen.
    Giật mình nhớ truyện nghìn năm cũ,
    Chiêm Lạp ngày xưa vốn chẳng hèn.
    NHƯỢNG-TỐNG KÍNH ĐỀ

    https://thuviensach.vn

    Bắc từ Lạng-sơn, nam Hà-tiên,
    Non sông một giải đất đai liền.
    Con Hồng cháu Lạc cùng cư tụ,
    Con cháu còn chăng nhớ tổ-tiên ?
    Tổ-tiên gây dựng biết bao công,
    Đánh Lạp bình Chiêm trải mấy đông.
    Nghiệp cả nối noi nên kính uý,
    Sao cho không hổ giống Tiên Rồng.
    TÁC-GIẢ TỰ-ĐỀ

    https://thuviensach.vn

    LỊCH-SỬ NAM-TIẾN CỦA DÂN-TỘC VIỆT
    NAM
    (VIỆT-NAM DÂN-TỘC NAM-TIẾN-SỬ)
    Trúc-Khê NGÔ-VĂN-TRIỆN biên-soạn
    Viên-tản cao xanh, Mê-công rộng lớn, non sông một dải, đất nước ba
    phần, vui vẻ thay anh em chị em hai mươi nhăm triệu đồng bào ta ngày nay
    được cùng nhau sinh tụ ở trên một cõi nước non hoa gấm, kẻ đi săn sẵn
    rừng, kẻ đi cầy sẵn ruộng, kẻ làm thợ sẵn đồ nguyên liệu, kẻ đi buôn sẵn
    đường bể sông, thực là một cõi rất thích nghi cho sự sinh hoạt của dân tộc ta,
    tựa như ông giời kia có ý vì dân tộc ta mà riêng dành cho vậy. Tuy nhiên nói
    vậy mà thôi, muôn việc ở đời, ta chớ nên lầm tưởng có ông giời kia đã vì
    người mà đặt để, dời sông chuyển núi, hết thẩy đều do ở nhân-lực mà nên.
    Chúng ta ngày nay được cùng nhau sinh tụ ở trên cái miếng đất Việt-Nam
    tốt tươi xinh đẹp của chúng ta đây, ta chớ nên lầm tưởng là do ở sự ngẫunhiên, chính là đã nhờ ở các bực tiên-dân của dân tộc ta trải qua mấy trăm
    nghìn năm, đã từng tưới dội biết bao nhiêu giọt máu đào mới tô bồi nên một
    cõi đất xinh đẹp tốt-tươi cho chúng ta ngày nay đó. Than ôi  ! tôi nghe có
    từng biết gây dựng gian nan, thì mới biết giữ gìn báu trọng, một gã thiếuniên sinh ra ở cửa nhà hào phú, sẵn ông cha để cho tiền nghìn bạc vạn,
    tưởng chừng như tiền bạc là một vật nhặt đâu cũng được, tha hồ mà hoang
    toàng phung phí, dùng bậy tiêu càn, không còn biết đoái tiếc gì cả ; nhưng ví
    có người bảo cho nó biết cái nông nỗi để biết bao nhiêu mồ hôi máu mặt của
    ông cha nó trong khi tu tạo nên cái cơ đồ ấy, nếu nó là kẻ lương tâm chưa
    mất hẳn, thì tất sẽ giật thót mình lại mà lo tự tu tự tỉnh tự phấn tự lệ để bảo
    toàn lấy công nghiệp huyết hãn của ông cha. Ấy tôi viết cuốn « Lịch sử nam
    tiến của dân tộc ta » đây chính là ý ấy.
    Lịch sử nam tiến của dân tộc ta ra thế nào ?
    Xét xem lịch sử mở mang bờ cõi của nước ta từ xưa đến nay, có thể
    gồm vào mà gọi là một cuộc nam tiến ; vì trước sau ta chỉ nhằm tiến về một

    https://thuviensach.vn

    mặt nam mà thôi. Bởi sao mà như thế ? Bởi vì địa thế của ta nó khiến như
    thế. Nước ta ngày xưa phía bắc giáp nước Tàu, phía nam giáp Chiêm, Lạp,
    phía đông giáp bể lớn, phía tây giáp Ai-lao. Ở giữa cái khoảng núi Tản sông
    Hồng kia nếu muốn khuếch trương bờ cõi cho rộng lớn thêm có đủ thế lực
    mà lập nên một nước đứng đắn ở Á-đông, trừ tiến về mặt nam không còn
    mặt nào hơn nữa. Bởi vì mặt bắc giáp nước Tàu là một nước rất lớn, lo
    chống chọi với họ để họ khỏi nuốt sống mình còn lo chưa nổi, mong gì khai
    thác về mặt ấy được ; mặt đông thì đã giáp bể ; mặt tây giáp với Ai-lao tuy
    là một nước nhỏ yếu,nhưng vì có nhiều núi cao rừng rậm ngăn cách, thành
    ra dẫu muốn mở mang về mặt ấy cũng chưa thể được ; trừ ra chỉ còn mặt
    nam giáp với nước Chiêm-thành, nước Chiêm-thành lại giáp với nước Chânlạp, vì cớ đường thuỷ, đường lục được tiện, vả hai dân ấy đều là dân nhỏ yếu
    có thể lấn át họ được, vì vậy mà sức bành trướng của dân tộc ta trước sau
    đều chỉ tràn về mặt nam. Tuy thế mặc lòng, sự khai thác bờ cõi, há có phải là
    một việc dễ đâu ; huống chi dân Chiêm Lạp cũng không phải hoàn toàn là
    giống hư hèn, cũng là những cái dân đã từng có một nền văn-minh rất sớm,
    thế mà lấy như một dân tộc nhỏ ở trong mảnh đất Giao-chỉ nọ, ngày lần
    tháng nữa, đã nghiễm nhiên phá diệt được cả Chiêm-thành lẫn Chân-lạp mà
    dựng nên một nước lớn Việt-Nam, đủ biết cái công phu huyết hãn của các
    đứng tiên dân ta xưa, thực đã lớn lao vô cùng vậy.
    Cứ như các nhà nhân-chủng-học thì bảo dân tộc ta thuộc giống Môngcổ, song cỗi gốc từ đâu mà đến thì mỗi sách nói một khác không sao đủ
    bằng cứ được. Sách thì bảo dân ta là ròng rõi Tây-tạng, sách thì bảo là ròng
    rõi Giao-chỉ, sách thì bảo là ròng rõi Việt thường, sách thì bảo là ròng rõi
    nước Việt bên Tàu, tổng chi đều là những nhời ức đoán cả, chứ không lấy gì
    làm đích xác. Vậy chúng ta chỉ nên biết rằng chúng ta là riêng một dân tộc ở
    trong thế giới, tức ngày nay gọi là dân tộc Việt-nam.
    Xét về cương vực nước ta đời Hùng dựng nước, đồ bản lúc ấy khác hẳn
    bây giờ ; cứ như sử cũ thì nói bấy giờ phía đông giáp bể Nam, phía tây giáp
    Ba-thục (tỉnh Tứ-xuyên nước Tầu bây giờ) phía bắc hồ Đỗng đình (thuộc
    tỉnh Hồ-nam) phía nam đến nước Hồ-tôn (sau là Chiêm-thành), quốc hiệu là

    https://thuviensach.vn

    nước Văn-lang. Cuối đời Hùng-vương (258 trước tây lịch), Thục-Phán diệt
    nước Văn-lang dựng nước Âu-lạc, tức là Thục An-dương-vương. Năm Đinh
    Hợi (214 trước T.L) nước Âu-lạc bị nước Tần đem quân sang lấn, lấy đất
    Lục lương mà đặt ra 3 quận : Nam-hải (Quảng-đông) Quế-lâm (Quảng-tây)
    1
    Tượng-quận (Quảng-tây) . Cuối đời Tần (207 trước T.L) quan Úy quận
    Nam-hải nhà Tần là Triệu-Đà đêm quân diệt nước Âu-lạc mà dựng nên nước
    Nam-Việt, xưng là Triệu Vũ-vương, đất cát gồm có 3 quận trên và cả đất của
    Thục An dương vương. Năm Canh ngọ (111 trước T.L) đời Thuật dương
    vương nhà Triệu, nước Nam-Việt bị nước Hán diệt mất, thế là từ đó phải nội
    thuộc về Tầu. Đời Hán Quang-Vũ năm Kiến-vũ thứ 16 (Tây lịch 40) vua
    Trưng giấy quân đuổi quan Thái-thú nhà Hán là Tô-Định, lấy lại được 65
    thành đất Lĩnh-nam. Cứ theo như sách Thoái thực ký văn của cụ Trương
    Quốc Dụng chép thì nói nước ta sau khi nội thuộc về nhà Tây-Hán, nhà Hán
    chia đất đặt ra 9 quận là Nam-hải, Uất-lâm, Thương ngô, Hợp-phố, Nhậtnam, Cửu-chân, Giao-chỉ, Đam-nhĩ, Châu-nhai mà gọi chung là bộ Giao-chỉ,
    sau lại bãi 2 quận Châu-nhai Đam-nhĩ mà hợp vào làm 7 quận, quận Giaochỉ lĩnh 12 thành, (tức là huyện), quận Cửu-chân lĩnh 5 thành, quận NhậtNam lĩnh 5 thành, quận Nam-hải lĩnh 7 thành, quận Thương-ngô lĩnh 11
    thành, quận Uất-lâm lĩnh 11 thành, quận Hợp-phố lĩnh 5 thành, cả thẩy là 56
    thành  ; vậy thì Đại-Việt sử ký chép là vua Trưng đánh đuổi Tô-Định lấy
    được 65 thành, có lẽ là số 56 mà nhầm là 65 chăng ? Như thế thì đời vua
    Trưng cũng có thu phục được cả Quảng-đông Quảng-tây vậy.
    Sau khi vua Trưng mất nước, nước ta lại nội thuộc về nhà Đông-Hán.
    Năm Kiến-an thứ 15 (210) đời Hán Hiến-đế, nhà Hán đổi bộ Giao-chỉ mà
    đặt làm Giao-châu. Năm Hoàng-vũ thứ 5 (266) nhà Ngô, Ngô-Tôn-Quyền
    cắt 3 quận Nam hải, Thương-ngô, Uất-lâm lập làm Quảng-châu, còn 4 quận
    kia vẫn để làm Giao-châu, nhưng không bao lâu lại hợp lại như cũ. Đến năm
    Vĩnh-an thứ 7 (264) Ngô-Tôn-Hưu lại lấy 3 quận trước mà đặt làm Quảng
    châu, châu Giao châu Quảng chia hẳn ra bắt đầu từ đấy, mà chính là khởi
    điểm cho sự mất đi quá nửa phần đất của nước ta vậy. Từ đấy về sau trải qua
    mấy phen cách mệnh, nhưng người mình cũng chỉ khôi phục được đất châu

    https://thuviensach.vn

    Giao mà thôi ; đến đời Ngô, Đinh độc lập mà đất châu Quảng đã không còn
    mong gì khôi phục lại được nữa.
    Mở xem bản đồ thì nước ta mất đất châu Quảng tức là mất đi quá nửa
    phần nước, cương vực chỉ còn quanh một xứ Bắc-Kỳ và 3 tỉnh Thanh, Nghệ
    Tĩnh phía Bắc Trung-kỳ mà thôi. Đất thì nhỏ hẹp mà số dân sinh sản một
    ngày một nhiều, sự thế không thể không tìm đường bành trướng. Như trên
    đã nói, ba mặt đông tây bắc không phải là con đường có thể tiến được, tự
    nhiên là phải tiến xuống mặt nam, huống chi những dân Chiêm-Thành,
    Chân-Lạp ở mặt nam lại thường hay vào quấy nhiễu nước ta, ta chẳng diệt
    họ thì họ cũng chẳng để cho ta được yên, nhân thế mà nam tiến là một con
    đường phải đi của ta, mà sự mở mang bờ cõi của nước ta gồm cả ở trong
    một cuộc nam tiến vậy.
    Nay xin lần lượt chép về cuộc nam tiến ấy. Đời vua Lê Đại-Hành niên
    hiệu Ứng thiên năm thứ 8 (1000) bấy giờ vì nước Chiêm-Thành bắt giam sứgiả nước ta là bọn Từ-Mục, Ngô-Tử, vua giận, tự làm tướng đem quân vào
    đánh chém được tướng Chiêm là Ti-mi-thuế, Chiêm-vương phải bỏ chạy,
    quân ta lấy được vàng bạc của cải rất nhiều. Vua Đại-Hành lại sai Ngô-TửYên đem 3 vạn quân mở một con đường đi bộ từ cửa bể Nam-giới cho đến
    châu Đại-lái (đất Chiêm, nay là phủ Quảng ninh thuộc tỉnh Quảng-bình). Lại
    đào một con sông từ núi Đồng-cổ cho đến con sông Bà-hoà tức là con sông
    ở xã Đồng-hoà, huyện Ngọc-sơn bây giờ. Ấy tức là khởi đầu cho bước
    đường nam tiến của dân tộc ta, vì có hai đường thuỷ lục ấy thì quân ta vào
    đánh Chiêm-Thành mới được tiện đường vận tải vậy.
    Nói đến nước Chiêm-Thành tưởng cũng nên thuật về lịch-sử của nước
    ấy. Nước Chiêm-Thành khi xưa là nước Hồ-Tôn, thuộc về bộ Việt-Thường.
    Đến nhà Tần đặt làm huyện Lâm-Ấp. Nhà Hán lại đổi làm huyện TượngLâm thuộc về quận Nhật-Nam. Đến thời vua Thuận-Đế nhà Hán năm VĩnhHoà thứ 2 (137) người trong quận ấy tên là Khu-Liên đương làm chức
    Công-Tào, bèn giết quan huyện lệnh mà giữ lấy đất tự xưng là Lâm-ấpvương. Truyền được vài đời rồi cháu ngoại là Phạm-Dật kế lập, Dật mất,
    2
    người tướng là Phạm Văn cướp ngôi rồi đánh lấn lấy đất nước láng giềng.

    https://thuviensach.vn

    Từ đó nước mới rộng lớn, Đông Tây rộng 700 dặm. Nam Bắc dài 3000 dặm,
    phía nam gọi là châu Thi Bị, phía tây gọi là châu Thượng Nguyên, phía Bắc
    gọi là châu Ô lỵ, thống trị cả thẩy 38 châu.
    Đời vua Mục Đế nhà Tấn (347) Phạm văn đem quân đánh Nhật Nam
    rồi chiếm lấy đất, nói với quan Thứ Sử Giao Châu là Chu Phồn xin từ núi
    Hoành Sơn ở phía Bắc Nhật Nam làm địa giới của mình. Phồn không nghe,
    đến khi Văn mất, con là Phật lên nối ngôi vẫn đóng ở Nhật Nam. Sau bị
    quan thái thú Cửu-châu là Quán Toại đánh đuổi đi, bèn lại trở về Lâm Ấp.
    Năm Nghĩa Hy thứ 9 (413) đời nhà Tấn vua Lâm Ấp là Phạm Hồ Đạt
    vào cướp quận Cửu-châu bị quan thứ sử Giao-chân là Tuệ Đô đánh chém
    được. Đến đời Nguyên Giả nhà Tống, vua Lâm Ấp là Phạm-dương-Mại sai
    sứ sang cống nhà Tống và xin được lĩnh Giao Châu, nhà Tống không cho,
    bèn lại cướp bóc như cũ. Nhà Tống sai Dân Hoà Chi và Tôn Xác đi đánh
    phá được quân Lâm-Ấp. Dương Mại chỉ thoát được một mình chạy trốn.
    Đến sau Phạm Chi nối ngôi, lại vào cướp Nhật Nam. Thời vua Dạng Đế nhà
    Tuỳ, niên hiệu Đại Nghiệp năm Dần (605) sai tổng quản Hoan Châu là LưuPhương đến đánh, đem quân sang đò Đồ lễ đi qua về phía nam cột đồng trụ
    8 ngày mới vào đến quốc Đô, Phương vào thành bắt được 18 bộ thần chủ
    bằng vàng bởi vì truyền quốc đến đó được 18 đời vậy. Thế là Lâm Ấp bị
    diệt, từ đó đất thuộc về nhà Tuỳ. Nhà Tuỳ chia đặt ra làm 3 châu là : Đãngchâu (Quảng-Bình, Quảng-Trị, Thừa-thiên), Nông-châu (Quảng-nam,
    Quảng-ngãi) Xung-châu (Bình-định, Phú-yên). Kế lại đổi Đãng-Châu làm
    quận Tị-Cảnh thống 4 huyện Tị Cảnh, Chu Ngô, Gia Lãnh, Tây Quyền  ;
    Nông Châu làm quận Hải Âm thống 4 huyện Tân Dung, Châu Long, Đa
    Nông, An-Tạc ; Xung Châu làm quận Lâm Ấp thống 4 huyện Tương Phố,
    Kim Sơn, Giao Dang, Nam Cục. Cuối đời nhà Tuỳ Phạm Chí lại họp quân
    chiếm giữ đất cũ. Đầu đời Đường, nhà Đường lại dụ hàng được Chí, mới đổi
    Lâm Ấp làm Lâm Châu, Tị Cảnh làm Lãng Châu, Hải Âm là Sơn Châu.
    Năm Trình Quán thứ 2 (628) cháu Phạm Chí là Phạm Đầu Lê, khôi phục
    được nước, sai sứ dâng hạt Hoả Chu chim yểng ngũ sắc và sừng thông thiên
    tê sang nhà Đường. Đầu Lê mất, con là Long nối ngôi, Long lại bị tên Ma-

    https://thuviensach.vn

    Aman, Đa-già-Độc giết mất. Người trong nước bèn lập người con nhà cô
    Đầu Lê là Chư cát Địa lên làm vua đổi quốc hiệu là Hoàn Vương. Trong
    năm Nguyên Hoà đời Đường Hiến-Tôn, nước Hoàn Vương lại vào cướp
    châu Hoan, châu Ái (Thanh Nghệ Tĩnh) bị hai quan đô hộ A nam đánh thua,
    bèn bỏ Lâm Ấp mà dời nước vào Chiêm, xưng nước là Chiêm Thành (vì chỗ
    đó có ngọn núi Chiêm bất La) đến khi nước ta Độc Lập về thời nhà Đinh,
    Chiêm Thành định vào cướp kinh thành Hoa Lư (Ninh Bình), xong Hải quân
    khi vượt qua cửa bể Đại Ác thì bị bại mà chạy về. Đến đời nhà Lê, Chiêm lại
    bắt giam xứ giả nước ta, vì vậy quân ta lại vào đánh chém được tướng
    Chiêm và phá tan thành trở về. Đến đời nhà Lý vua Thái Tổ năm Thuận
    Thiên thứ 2 (1001) quân ta lại vào đánh Chiêm Thành ở trại Bố Chính
    (Quảng Bình) đuổi giặc đến tận núi Long Tỵ (núi này ở tận phía tây huyện
    Bình Chính năm dậm).
    Đời vua Thái Tôn nhân nước Chiêm thành đã cách 16 năm không chịu
    vào dưng đồ cống hiến, vua Thái-tôn bèn định ra oai cho họ biết sợ, mới
    đóng ra mấy trăm chiếc tàu chiến theo các hình rồng phượng cá rắn hùm beo
    anh võ, luyện tập quân thuỷ quân bộ cho được tinh nhuệ. Niên hiệu Thiên
    cảm thánh võ năm đầu (1044) quân ta bèn đại cử vào đánh Chiêm, do vua
    Thái-tôn thân đi làm tướng, theo đường thuỷ tiến vào cửa bể Ô-long (nay là
    cửa Tư-hiền, ở phía đông bắc huyện Phú-lộc 1 dậm thuộc về tỉnh Thừathiên) đánh nhau với Chiêm-thành một trận, quân họ phải thua, chém được
    vua họ là Xạ-Đẩu và giết chết quân họ hơn 3 vạn người, bắt sống được 5
    nghìn người, 30 con voi. Rồi tiến vào thành Phật-thệ (ở xã Nguyệt-biều tỉnh
    3
    Thừa-thiên bây giờ) bắt vợ con vua họ đem về . Còn những người của nước
    ấy bắt được thì đem phân sáp vào trấn Vĩnh-khang, (tức phủ Tương dương
    Nghệ-an) trấn Đăng-châu tức phủ Quy hoá) mà lập ra làm phường ấp. Đời
    vua Thánh tôn niên hiệu Thiên-huống-bảo-tượng năm thứ 2 (1069), quân
    Chiêm vào cướp, vua giao cho nguyên-phi quyền coi việc nước, tự làm
    tướng đi thân chinh, bắt được vua Chiêm là Chế-Củ và 5 vạn người Chiêm
    đem về. Chế-Củ xin dâng đất 3 châu là châu Địa-lái (nay là đất phủ Quảngninh tỉnh Quảng-bình), châu Bố-chinh (nay là đất phủ Quảng-Trạch tỉnh
    Quảng-bình), châu Ma-linh (nay là đất phủ Triệu-phong tỉnh Quảng-trị) để

    https://thuviensach.vn

    chuộc tội mới được tha về. Đời vua Nhân-Tôn năm Thái-ninh thứ 4 (1075)
    vua sai ông Lý-thường-Kiệt vào kinh lý 3 châu ấy, vẽ thành địa đồ, đổi châu
    Địa-lái làm châu Lâm-bình, châu Bố-chinh, châu Ma-linh làm châu Minh
    linh, rồi chiêu dụ cho dân đường ngoài vào ở. Chế-Củ mất, Chế-ma-Na nối
    ngôi, lại cướp lấy 3 châu ấy. Năm Long-phù thứ 4 (1104), quân ta lại vào
    đánh, do ông Lý-thường-Kiệt làm tướng, đánh phá được Chiêm thành, Chếma-na lại phải nộp giả đất 3 châu. Thế là đất Quảng-bình và một phần đất
    Quảng-trị từ đó thuộc hẳn về ta vậy.
    Thời vua Lý-Thần-Tôn, Chiêm-thành cùng Chân-lạp ra cướp Nghệ-an,
    bị quan Thái thú là Dưỡng anh-Nhĩ đánh thua phải chạy. Sau họ lại thường
    đem thuỷ sư ra cướp bóc các miền ven bể.
    Sang đời nhà Trần, vua Thái-tôn đi thân chinh, bắt được vua Chiêm là
    Lâu-bố-gia-la và những nhân dân đem về. Năm Hưng Long thứ 10 đời vua
    Trần-Anh-Tôn (1302), vua Chiêm-thành là Chế-Mân sai sứ ra cầu hôn và
    xin nộp hai châu Ô, Lỵ làm đồ cưới. Vua Anh-Tôn đem bà Huyền-Trân công
    chúa gả cho rồi đổi châu Ô làm Thuận châu (đất phía Nam tỉnh Quảng-trị)
    châu Lỵ làm Hoá-châu (Thừa-thiên và phía bắc Quảng-nam). Thế là bước
    đường nam tiến của dân tộc ta đã tiến đến nửa tỉnh Quảng-nam rồi vậy.
    Sau đó Chiêm-thành thường hay đem quân ra cướp để báo thù. Cuối
    đời nhà Trần, Chiêm-thành 3 lần ra cướp phá kinh thành Thăng-long và mấy
    lần cướp phá Thanh Nghệ, nhân dân cũng chết hại rất nhiều, vua Trần-Duệtôn đi thân chinh (1376) dẫn quân đến cửa bể Thi nại (ở phía đông huyện
    Tuy-phúc tỉnh Bình-định bây giờ), vua Chiêm là Chế-bồng-nga trá hàng rồi
    phục quân mà đánh chặn ngang, vua Duệ-tôn phải tử trận, quân sĩ chết mất
    nhiều lắm. Đời vua Thuận-tôn, Thượng tướng quân Trần-Khát-Trân đón
    đánh ở sông Hải-trào, Chế-bồng-nga tin phải đạn mà chết ; bộ tướng là LaKhải dẫn quân về giữ lấy nước tự lập làm vua, bấy giờ cái nạn giặc Chiêmthành mới tạm yên.
    Đời nhà Hồ niên hiệu Thánh nguyên năm đầu (1400), Hồ-Quý-Ly sai
    Hành-khiển Đỗ-Hải làm Thuỷ quân đô tướng, tướng Tả thánh dực quân
    Trần-Vấn làm Đồng đô tướng, tướng Long-tiệp-quân Trần-Tùng làm Bộ

    https://thuviensach.vn

    quân đô tướng, tướng Hữu thánh dực quân Đỗ nguyên Thác làm Đồng đô
    tướng, đem 15 vạn quân đi đánh Chiêm-thành. Bộ quân Đô tướng TrầnTùng vì nghe nhời Đinh-đại-Trung, dẫn quân đi tận mạn sơn cước, cách xa
    với thuỷ quân quá, xẩy gập khi mưa lũ nước lụt, tướng sĩ đành đóng lại ở
    giữa đường, tuyệt lương trong 3 ngày giời, phải nướng áo giáp bằng da ra
    mà ăn. Khi hồi quân, Trần-Tùng xuýt phải tội chết, nhưng vì có công lao
    trước, được miễn tội chết mà phải đầy làm quân lính.
    Năm Thiệu-thành thứ 2 (1402) mùa xuân tháng hai, vua Hồ-HánThương sai sửa định quân ngũ. Tháng ba sai sửa một con đường từ thành
    Tây-đô (ở xã An-tôn huyện Vĩnh-lộc tỉnh Thanh-hoá bây giờ) đến Hoá-châu
    (Thừa-thiên), dọc đường đặt ra phố sá và nhà trạm gọi là đường thiên lý.
    Mùa hạ tháng sáu Hán-Thương cất đại quân vào đánh Chiêm-thành, lấy ĐỗMãn làm Đô tướng, Nguyễn-Vi làm Chiêu dụ sứ, Nguyễn-bằng-Cử làm
    Đồng Chiêu dụ sứ. Quân ta đến bờ cõi Chiêm-thành ; Đinh-đại-Trung cưỡi
    ngựa đi tiên phong, gập tướng giặc là Chế-cha-nan, hai người giao chiến
    cùng chết cả. Vua Chiêm là Ba-đích-lại (con La-Khải) sợ hãi, sai Cậu là Bốđiền đem dâng 2 con voi, một con đen một con trắng cùng mọi đồ phương
    vật, lại dâng đất Chiêm-động để xin ta lui quân. Bố-điền đến, Hán-Thương
    bắt hiếp phải chữa lại tờ biểu, nói dâng cả đất Chiêm-động và đất Cổ-luỹ ;
    rồi chia đất Chiêm-động ra làm châu Thăng châu Hoa (đất phía Nam tỉnh
    Quảng-nam), chia đất Cổ-luỹ ra làm châu Tư châu Nghĩa (Quảng Nghĩa) đặt
    quan Thăng-hoa an-phủ-sứ để thống trị các châu ấy. Về mạn thượng du thì
    đặt ra làm trấn Tân-ninh. Chiêm-thành đem những nhân dân ở các đất ấy về
    nước, còn thì ta thu dùng làm quân. Hán-Thương bèn đổi quan An-phủ sứ lộ
    4
    Thuận-hoá là Nguyễn-cảnh-Chân vào làm Thăng-hoa An-phủ-sứ, rồi thiên
    dân mạn bắc vào ở mấy châu ấy, cho cả vợ con được đi theo ; lại cho dân
    nộp trâu chuộc tội để lấy trâu mà cấp cho những dân thiên cư ấy. Từ đó dân
    ta thiên vào ở mặt nam càng ngày càng nhiều.
    Hiệu Khai đại năm đầu (1403), quân ta lại vào đánh Chiêm-thành, vua
    Hồ-Hán-Thương dự chia đất Chiêm ra làm các châu huyện, sai Phạmnguyên-Khôi thống xuất hai mươi vạn quân thuỷ bộ tiến vào. Quân pháp rất

    https://thuviensach.vn

    nghiêm, người nào lâm trận mà nhút nhát sẽ bị tội chém, vợ con điền sản sẽ
    phải thu làm của quan. Đại quân vào đến Chiêm-thành, vây thành Đồ-bàn
    (Bình-định) nhưng vì quân đi đã chín tháng giời, lương hết lại phải kéo về.
    Không được bao lâu thì nhà Hồ bại ; quân Minh vào chiếm nước ta, ta
    còn lo chống chọi với giặc Minh chưa xong, vua Chiêm-thành là Ba-Đíchlại nhân dịp đó chiếm lấy 4 châu Thăng, Hoa, Tư, Nghĩa mà lại hay vào biên
    cương cướp phá. Sau khi nhà Lê phục quốc, niên hiệu Thái-hoá thứ 2
    (1444), vua Chiêm là Bí-Cai lại vào cướp phá đất Hoá-châu ; vua Nhân-tôn
    mới sai ông Lê-Phụ, ông Lê-Khả vào đánh thành Đồ-Bàn, bắt Bí-Cai đem
    về. Người trong nước mới lập người cháu vua cũ Bố-Đề là Ma-a-quy-lai lên
    làm vua. Em Quy-lai là Quy-Do lại giam anh mà tự lập. Sau Bàn-la-tràduyệt giết Quy-Do mà cướp lấy rồi truyền ngôi cho con là Bàn-la-trà-toàn.
    Năm Hồng-Đức thứ 1 (1470) mùa thu tháng 8 vua Chiêm là Bàn-la-trà-toàn
    thân xuất thuỷ bộ tượng mã vào cướp Hoá-châu. Trấn tướng Hoá-châu là
    Phạm-văn-Hiển thế không địch nổi mới dồn dân vào cả trong thành rồi đưa
    thư cáo cấp về triều. Vua Thánh-Tôn liền xuống dụ trưng binh mộ tướng.
    Tháng 11, định ra 52 điều quân luật. Ngày mồng 6, vua xuống một tờ chiếu
    nói việc thân chinh Chiêm-thành, sai thái-sư Lân-quận-công Đinh-Liệt,
    Thái-bảo Kỳ-quận-công Lê-Kiện lĩnh quân ba phủ đông nam bắc đi trước,
    ban bố 24 điều về việc đi đánh Chiêm-thành ra các dinh và các vệ Cẩm-y,
    Kim-ngô, Thân-vũ Điện-tiền. Ngày mồng 7, vua vào làm lễ cáo ở nhà Tháimiếu. Ngày 16, vua thân xuất đại quân tiến đi, sai bọn tả đô đốc Lê-hy-Cát,
    Hữu đô-đốc Lê-cảnh-Huy ở lại kinh thành lưu thủ. Ngày hôm ấy ngự giá
    khởi hành, có mưa phùn và có gió bắc, vua có làm mấy câu thơ rằng  :
    «  Trăm muôn tướng sĩ ruổi lên đường, lấm tấm mưa nhuần, gió bắc
    phương », tức là bài thơ kỷ thực đó. Sai Nguyễn-như-Đổ đến tế ở miếu vua
    Đinh-Tiên-Hoàng, để cầu quân đi được thắng trận. Vua lấy bức địa đồ
    Chiêm-thành, đổi đặt lại những tên sông núi. Ngày mồng 3 tháng 12, đại giá
    đến Thiết-sơn. Ngày 18, thủy quân vào đến Chiêm-thành.Năm Hồng-Đức
    thứ 2 (1471), ngày mồng 2 tháng Giêng, vua nghĩ rằng đại tướng quân đem
    quân bước vào cõi giặc thì cần phải có quân sĩ tinh luyện, bèn truyền cho
    quân Thuận-hoá đều phải ra bể để thao diễn về đường thuỷ chiến. Vua lại lo

    https://thuviensach.vn

    rằng núi sông nước Chiêm nhiều chỗ hóc hiểm chưa biết, bèn sai người thổ
    tù Thuận-hoá là Nguyễn-Vũ vẽ một bức tường đồ dâng trình. Ngày mồng 6
    viên Chỉ huy là Cương-Viễn bắt đem đến nộp một tên coi giữ ở cửa quan
    Câu đê Chiêm-thành là Bồng nga. Viên tù trưởng Sa bôi là Cầm tích, tù
    trưởng Thuận bình là Đạo-Vũ hôm ấy cũng vào chầu dâng đồ phương vật.
    Sứ thần Ai-lao là bọn Lang-lệ cũng đem đồ phương vật lại dâng. Vua thân
    soạn bài sách Bình Chiêm ban ra các dinh, trong bài sách nói có 10 lẽ có thể
    thắng và có 3 việc đáng nên sợ. Vua sợ tướng sĩ chưa hiểu, sai quan Chỉ huy
    Nguyễn-thế-Mỹ dịch ra quốc ngữ cho mọi người đều biết. Lại sai quan
    Giám-sát ngự-sử Lê-bá-Di đem thóc kho Thuận hoá mà chuyển vận đến nơi
    hành tại. Ngày mồng 5 tháng 2 vua Chiêm là Trà-Toàn sai em là Thi-Nại và
    đại thần 6 người đem 8 nghìn binh tượng lẻn đến gần dinh vua để mưu đánh
    úp. Ngày mồng 7 vua sai Tả-du-kích tướng-quân Lê hy Cát, Hoàng nhân
    Thiêm, và tiên phong tướng quân Lê-Thế, Trịnh-văn-Sái đem hơn 5 trăm
    chiếc tầu 3 vạn tinh binh, đang đêm lẻn ra cửa bể Cựu-áp (nay là Tiểu áp
    thuộc huyện Hà-đông Quảng-nam), kịp vượt bể lẻn vào cửa Sa kỳ (cửa này
    nay ở phía đông nam huyện Bình-sơn tỉnh Quảng-nghĩa) lập luỹ đắp thành
    để chặn đường về của giặc. Quân Chiêm vẫn không biết gì cả. Ngày mồng 7,
    vua thân xuất thuỷ quân hơn nghìn chiếc tàu, 70 (?) vạn tinh binh kéo ra hai
    cửa bể Tân áp Cựu áp (Tân áp nay là Đại áp cũng ở huyện Hà đông, Quảngnam) cờ bay rợp bể, trống đánh vang giời, quân reo rầm rĩ mà tiến vào cửa
    bể Thái cần (Quảng-nghĩa) mật sai tướng bộ quân là Nguyễn-Đức-Trung
    đem bộ binh lẻn đến mạn sơn cước. Quân Chiêm trông thấy quân vua ầm ầm
    kéo đến đều sợ hãi, chạy cả về thành Đồ-bàn. Về đến núi Mạc-nô chợt thấy
    Hy-cát đã chẹn mất đường về, hoảng hốt phải chạy vào đường núi, khí giới
    lương thảo bỏ lại đầy đồng, người ngựa ngã chết khắp núi. Bọn Lê-Niệm
    Ngô-Hồng phái binh đuổi đánh, chém chết được một viên đại tướng. Trà
    Toàn nghe tin em thua chạy, sợ hãi, vội sai người thân tín dâng biểu xin
    hàng. Vua không nghe. Ngày 27, vua thân xuất đại quân phá thành Thi nại,
    chém được hơn trăm thủ cấp. Ngày 28 vua tiến binh vây thành Đồ bàn.
    Ngày 29, đến sát chân thành vây chặt mấy vòng. Ngày mồng 1 tháng 3, vua
    truyền lệnh cho các đạo quân đồng thời đánh thành và làm thang bắc trèo lên

    https://thuviensach.vn

    mặt thành. Một lúc, vua trông thấy quân tiền kỵ đã trèo được lên tường
    thành, bèn phát 3 tiếng súng hiệu, truyền quân chém phá cửa đông tiến vào,
    lại sai Đồng thái giám Nguyễn-Đam truyền cho các quân sau khi vào thành
    phàm các kho đạn tài vật không được cướp phá. Chiêm chúa Trà-toàn bắt
    được không được giết chết. Quân ta hạ được thành, bắt được hơn 3 vạn
    người, chém được hơn bốn vạn cấp. Vua sai quan chỉ huy Ngô-Nhạn dẫn
    hàng tướng của Chiêm là Bồ-sản-ba-ma đến, sai dàn bầy những của báu đồ
    vật gì của Chiêm mà nước ta không có để vua coi. Lệnh-uý Đỗ-Hoàn trỏ
    khắp từng thứ. Có một cái hộp bạc, hình như cái gươm. Vua hỏi đó là vật
    gì ? Hoàn tâu vật ấy từ xưa đến nay phàm vua nước Chiêm tất đều phải có,
    rồi đời nọ truyền cho đời kia. Quân Thuận-hoá bắt sống được Trà-Toàn dẫn
    đến trước mặt vua, Trà-Toàn phục lạy xuống đất. Vua hỏi rằng : « Nhà ngươi
    có phải là vua Chiêm không ? » Trà-Toàn thưa phải. Vua hỏi : « Nhà ngươi
    có mấy con ? » Trà-Toàn thưa có hơn 10 con. Đỗ-Hoàn nói : « Hắn đã biết
    phép thì xin bệ hạ tha chết cho hắn ». Vua bảo Trà Toàn rằng : « Trong vòng
    gươm súng, ta chỉ e nhà ngươi ngộ hại, may không hề gì như thế, ta thật yên
    lòng ». Bèn sai đem Trà Toàn cho ra ở tạm một cái nhà nhỏ. Quân sĩ điệu đi
    mau quá. Vua bảo : « Thong thả chứ mà ! Hắn là vua một nước, không nên
    làm quẫn bách hắn quá như thế ».
    Trà Toàn đã bị bắt, có người tướng của Trà Toàn là Bô tri trì chạy đến
    Phan lung (thuộc Bình thuận) giữ được chừng một phần năm đất Chiêm cũ
    mà xưng là Chiêm thành vương, sai sứ xưng thần phụng cống. Vua bèn đi
    kinh lý đến núi Thạch bi (thuộc phủ Tuy hoà, tỉnh Phú yên) dựng bia định
    địa giới ở núi ấy (bia ấy nay hãy còn, nhưng mòn quá không trông rõ chữ).
    Còn từ núi Cầu mông (thuộc huyện Đồng xuân, tỉnh Phú yên) trở về phía
    nam thì ưng phong cho Bô tri trì làm vua Chiêm thành, giữ đất để cung chức
    cống ; lại phong thêm hai vua Hoa anh Nam bàn và chia ra làm 3 nước để
    dàng buộc lẫn nhau.
    Trận bình-Chiêm này, quân thanh của ta lừng lẫy xa gần, khi đại quân
    khải hoàn, những thổ tù ở các động mán đều đua nhau đem đồ trâu bảo tiến

    https://thuviensach.vn

    cống. Trà Toàn bị giải về đến sông Thiên phái thì lo sợ mà chết, vua sai
    chém đầu bêu ở đầu thuyền.
    Thế là bước đường nam tiến của dân tộc ta sau trận này thì đã tiến đến
    biên giới phía bắc tỉnh Phú yên rồi vậy.
    Tháng 6 năm ấy (1471), vua Lê Thánh Tôn lấy đất Chiêm-thành mà đặt
    làm Quảng-nam thừa-tuyên và vệ Thăng hoa, và đặt ra Quảng nam tam ty.
    Năm Hồng đức thứ 3 (1472) em Trà Toàn là Trà Toại trốn vào trong
    núi, rồi sai sứ cáo nạn với nhà Minh và xin phong. Vua Thánh tôn sai Lê
    Niệm đem binh đuổi theo bắt được Trà Toại, hơn 30 năm rồi chết ở đó.
    Năm thứ 21 (1490) định bản đồ trong nước thì thừa tuyên Quảng nam
    lĩnh 3 phủ 9 huyện : 1. Phủ Thăng hoa thống 3 huyện Lê giang, Hy giang,
    Hà đông. 2. Phủ Tư nghĩa, thống 3 huyện Nghĩa giang, Bình dương, Mộ hoa
    (nay Quảng nghĩa) 3. Phủ Hoài nhân, thống 3 huyện Bồng sơn Phù ly, Tuy
    viễn, (nay Bình định). Thời vua Lê Hiến tôn, con Trà Toại Trà Phúc lấy trộm
    hài cốt cha trốn về nước rồi sai người sang nhà Minh cầu cứu đóng thuyền
    bè chứa lương để đồ phản kháng. Đòi vua Uy mục bắt được mấy người
    Chiêm ở ngoài bể, tra biết mưu ấy, bèn sai Lý tử Vân vào kinh lý Quảng
    nam để phòng bị, việc ấy mới yên.
    Đến đời họ Nguyễn làm chúa phía nam, Chiêm thành vẫn thần phục,
    sau lại thường hay quấy nhiễu ngoài ven. Năm Tân-hợi (1611), Gia dụ
    vương sai chủ sự là Văn Phong lĩnh binh đi đánh, chiếm lấy đất đặt làm phủ
    Phú-an, lĩnh 2 huyện Đồng xuân Tuy hoà (nay tức là tỉnh Phú-an), rồi sai
    Văn Phong lưu thủ đất ấy. Đến đời Sĩ vương, Văn Phong làm phản. Sĩ
    vương sai phó tướng là Nguyễn-phúc-Vĩnh giẹp tan được rồi lập đất ấy làm
    doanh Trấn biên.
    Thời Hiền vương, vua Chiêm-thành là Bà tấm xâm vào Phú-an, vương
    sai cai cơ là Hùng Lộc làm thống binh, sá sai là Minh Võ làm tham mưu,
    lĩnh 3000 quân đi đánh Hùng lộc tiến binh qua núi Thạch bi, kéo thẳng đến
    thành, thừa lúc ban đêm phóng hoả đánh phá. Bà tấm phải chạy đi trốn.
    Quân ta chiếm đất đến sông Phan giang (1656), rồi lấy ở phía đông sông ấy

    https://thuviensach.vn

    đặt ra hai phủ Thái khang (nay Ninh hoà), Diên Ninh (nay Diên khánh, phủ
    Thái khang thống 2 huyện Quảng phúc, Tân định, phủ Diên ninh thống 3
    huyện. Phúc điền, Quảng xương, Hoa châu, lập ra doanh Thái khang ở Nha
    trang (nay là tỉnh thành Khánh hoà) để thống trị. Còn phía tây sông ấy thì
    giả lại cho Chiêm thành, bắt phải hàng năm vào cống hiến.
    Thời Minh vương năm 1691, vua Chiêm là Bà tranh lại vào quấy nhiễu
    phủ Diên ninh. Vương sai Nguyễn hữu-kính làm Thống binh đi đánh, bắt
    được Bà tranh và bọn bề tôi là Kế bà tử và bọn thân thuộc là Nương-my Bàân đem về giam ở núi Ngọc chản, đổi nước Chiêm thành đặt là trấn Thuận
    thành. Vương lại sai Nguyễn-tri-Thắng giữ Phố-hài, Nguyễn-tán-Lễ giữ
    Phan-lý, Chu-kiêm-Thắng giữ Phan-lang để phòng những dư đảng Thuận
    thành. Sau lại đổi làm phủ Bình thuận cho đến Kế-bà-tử làm Khánh lý và
    cho ba con của Bà-ân làm Đề-Đốc, Đề-lĩnh, Cai phủ, bắt phải vận mặc theo
    kiểu ta, rồi cho về để cai trị lấy dân.
    Tháng chạp năm ấy, người Tàu tên là A-ban cùng với người Chiêm
    thành là Ô-nha-trát nổi loạn, Minh-vương sai Nguyễn-hữu-Kính cất quân
    vào giẹp tan được đám ấy. Kế-bà-tử kêu rằng : « Từ khi thay đổi chính-trị
    đến nay, mùa màng mất luôn, nhân dân thì sinh ra tật dịch ». Vương thương
    tình, bèn lại phong cho Kế-bà-tử làm Thuận-thành-trấn phiên-vương để phủ
    trị lấy binh dân mà hàng năm phải vào nộp cống.
    Những người ngựa và kiếm ấn trước bắt được cũng giả cho cả. Lại cấp
    30 tên lính kinh để bảo hộ giúp cho. Năm Chính hoà thứ 18 (1697) mới lại
    lấy đất của Thuận-thành vương mà đặt làm phủ Bình-thuận, lấy đất Phan-lý
    Phan-lang đặt làm 2 huyện An-phúc Hoà-đa. Từ đó Chiêm thành mất hẳn về
    bản đồ nước ta vậy. Đó là bước nam tiến của dân ta đã đến hết đất Trung-kỳ
    giáp đất Nam-kỳ.
    Nghĩ như Chiêm-thành cũng là một nước khai hoá rất sớm đã từng sản
    xuất ra những bậc người tài hùng lược lớn làm cho nước ta đôi phen ăn
    không ngon ngủ không yên ; thế mà hay đâu lần lần về sau đến nỗi phải táng
    quốc diệt chủng ! Xét ra cớ đó chỉ vì dân họ không biết tự cường tự phấn, vì
    họ chịu ở dưới cái chính thể quân chủ chuyên chế, việc nước hay dở đều

    https://thuviensach.vn

    mặc kệ ở lũ vua quan. Thế mà vua quan về sau chỉ thấy sản xuất những mặt
    đớn hèn, lúc bình thường không chịu tu tỉnh cho nội lực được đầy đủ rồi rào,
    đối với trong thì áp chế bậy, đối với ngoài thì hóc hách sằng, quân ngoài vừa
    kéo đến nơi đã luỹ vỡ thành tan, cắt đất bồi khoản, ngày nay mất một khu,
    sang năm mất một hạt, trách nào mà dần dần chẳng nước mất giống cũng
    không còn. Ta chép đến đây luống những vì người Chiêm mà phàn nàn ái
    ngại. Trong cuộc sinh tồn cạnh tranh, khoẻ sống yếu chết, coi đó mà cũng
    đáng ghê thay ! cũng đáng sợ thay !
    Xét tục Chiêm-thành, người nào cũng lấy chiên quấn vào bụng, bỏ giọt
    dài xuống tới chân. Vạt tay áo đều hẹp. Đầu búi tóc mé sau để xoã ra. Vua
    mặc áo Cát bối, đội mũ bông vàng, rủ tua thất bảo. Đùi vế đều để hở, chân đi
    giày nhưng không có tấ...
     
    Gửi ý kiến

    Văn hóa đọc sách không đơn giản là thói quen, nó bao gồm cả sự yêu thích và kỹ năng đọc hiểu một cuốn sách

    KÍNH CHÀO QUÝ THẦY CÔ VÀ QUÝ BẠN ĐỌC ĐÃ ĐẾN TƯỜNG WEBSITE CỦA THƯ VIỆN TRƯỜNG THCS TÂN XUÂN - HÓC MÔN - HỒ CHÍ MINH!