Hồ Chí Minh một con người, một dân tộc, một thời đại, một sự nghiệp
Lịch sử Nam tiến của dân tộc Việt

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Nguyễn Thị Hoa
Ngày gửi: 18h:40' 05-04-2024
Dung lượng: 252.7 KB
Số lượt tải: 2
Nguồn:
Người gửi: Nguyễn Thị Hoa
Ngày gửi: 18h:40' 05-04-2024
Dung lượng: 252.7 KB
Số lượt tải: 2
Số lượt thích:
0 người
https://thuviensach.vn
Tên sách : LỊCH-SỬ NAM TIẾN CỦA DÂN TỘC VIỆT NAM
Tác giả : TRÚC-KHÊ
Nhà xuất bản : NGÀY MAI
-----------------------Nguồn sách : tusachtiengviet.com
Đánh máy : Linh2017
Kiểm tra chính tả : Ngô Thanh Tùng,
Võ Băng Châu, Dương Văn Nghĩa
Biên tập ebook : Thư Võ
Ngày hoàn thành : 27/09/2018
https://thuviensach.vn
Ebook này được thực hiện theo dự án phi lợi nhuận « SỐ HÓA 1000
QUYỂN SÁCH VIỆT MỘT THỜI VANG BÓNG » của diễn đàn TVE4U.ORG
Cảm ơn tác giả TRÚC-KHÊ và nhà xuất bản NGÀY MAI đã chia sẻ với
bạn đọc những kiến thức quý giá.
https://thuviensach.vn
TRÚC-KHÊ
LỊCH-SỬ NAM TIẾN
CỦA DÂN TỘC VIỆT NAM
(VIỆT-NAM DÂN-TỘC NAM-TIẾN SỬ)
NHÀ XUẤT BẢN NGÀY MAI
112, HÀNG BÔNG
HANOI
https://thuviensach.vn
ĐỀ-TỪ
Gấm vóc non sông một giải liền,
Máu đào xương trắng điểm tô lên.
Cơ trời dù đổi trò tang hải,
Mặt đất chưa tàn nghiệp tổ tiên.
Có nước có dân đừng rẻ rúng,
Muốn còn muốn sống phải đua chen.
Giật mình nhớ truyện nghìn năm cũ,
Chiêm Lạp ngày xưa vốn chẳng hèn.
NHƯỢNG-TỐNG KÍNH ĐỀ
https://thuviensach.vn
Bắc từ Lạng-sơn, nam Hà-tiên,
Non sông một giải đất đai liền.
Con Hồng cháu Lạc cùng cư tụ,
Con cháu còn chăng nhớ tổ-tiên ?
Tổ-tiên gây dựng biết bao công,
Đánh Lạp bình Chiêm trải mấy đông.
Nghiệp cả nối noi nên kính uý,
Sao cho không hổ giống Tiên Rồng.
TÁC-GIẢ TỰ-ĐỀ
https://thuviensach.vn
LỊCH-SỬ NAM-TIẾN CỦA DÂN-TỘC VIỆT
NAM
(VIỆT-NAM DÂN-TỘC NAM-TIẾN-SỬ)
Trúc-Khê NGÔ-VĂN-TRIỆN biên-soạn
Viên-tản cao xanh, Mê-công rộng lớn, non sông một dải, đất nước ba
phần, vui vẻ thay anh em chị em hai mươi nhăm triệu đồng bào ta ngày nay
được cùng nhau sinh tụ ở trên một cõi nước non hoa gấm, kẻ đi săn sẵn
rừng, kẻ đi cầy sẵn ruộng, kẻ làm thợ sẵn đồ nguyên liệu, kẻ đi buôn sẵn
đường bể sông, thực là một cõi rất thích nghi cho sự sinh hoạt của dân tộc ta,
tựa như ông giời kia có ý vì dân tộc ta mà riêng dành cho vậy. Tuy nhiên nói
vậy mà thôi, muôn việc ở đời, ta chớ nên lầm tưởng có ông giời kia đã vì
người mà đặt để, dời sông chuyển núi, hết thẩy đều do ở nhân-lực mà nên.
Chúng ta ngày nay được cùng nhau sinh tụ ở trên cái miếng đất Việt-Nam
tốt tươi xinh đẹp của chúng ta đây, ta chớ nên lầm tưởng là do ở sự ngẫunhiên, chính là đã nhờ ở các bực tiên-dân của dân tộc ta trải qua mấy trăm
nghìn năm, đã từng tưới dội biết bao nhiêu giọt máu đào mới tô bồi nên một
cõi đất xinh đẹp tốt-tươi cho chúng ta ngày nay đó. Than ôi ! tôi nghe có
từng biết gây dựng gian nan, thì mới biết giữ gìn báu trọng, một gã thiếuniên sinh ra ở cửa nhà hào phú, sẵn ông cha để cho tiền nghìn bạc vạn,
tưởng chừng như tiền bạc là một vật nhặt đâu cũng được, tha hồ mà hoang
toàng phung phí, dùng bậy tiêu càn, không còn biết đoái tiếc gì cả ; nhưng ví
có người bảo cho nó biết cái nông nỗi để biết bao nhiêu mồ hôi máu mặt của
ông cha nó trong khi tu tạo nên cái cơ đồ ấy, nếu nó là kẻ lương tâm chưa
mất hẳn, thì tất sẽ giật thót mình lại mà lo tự tu tự tỉnh tự phấn tự lệ để bảo
toàn lấy công nghiệp huyết hãn của ông cha. Ấy tôi viết cuốn « Lịch sử nam
tiến của dân tộc ta » đây chính là ý ấy.
Lịch sử nam tiến của dân tộc ta ra thế nào ?
Xét xem lịch sử mở mang bờ cõi của nước ta từ xưa đến nay, có thể
gồm vào mà gọi là một cuộc nam tiến ; vì trước sau ta chỉ nhằm tiến về một
https://thuviensach.vn
mặt nam mà thôi. Bởi sao mà như thế ? Bởi vì địa thế của ta nó khiến như
thế. Nước ta ngày xưa phía bắc giáp nước Tàu, phía nam giáp Chiêm, Lạp,
phía đông giáp bể lớn, phía tây giáp Ai-lao. Ở giữa cái khoảng núi Tản sông
Hồng kia nếu muốn khuếch trương bờ cõi cho rộng lớn thêm có đủ thế lực
mà lập nên một nước đứng đắn ở Á-đông, trừ tiến về mặt nam không còn
mặt nào hơn nữa. Bởi vì mặt bắc giáp nước Tàu là một nước rất lớn, lo
chống chọi với họ để họ khỏi nuốt sống mình còn lo chưa nổi, mong gì khai
thác về mặt ấy được ; mặt đông thì đã giáp bể ; mặt tây giáp với Ai-lao tuy
là một nước nhỏ yếu,nhưng vì có nhiều núi cao rừng rậm ngăn cách, thành
ra dẫu muốn mở mang về mặt ấy cũng chưa thể được ; trừ ra chỉ còn mặt
nam giáp với nước Chiêm-thành, nước Chiêm-thành lại giáp với nước Chânlạp, vì cớ đường thuỷ, đường lục được tiện, vả hai dân ấy đều là dân nhỏ yếu
có thể lấn át họ được, vì vậy mà sức bành trướng của dân tộc ta trước sau
đều chỉ tràn về mặt nam. Tuy thế mặc lòng, sự khai thác bờ cõi, há có phải là
một việc dễ đâu ; huống chi dân Chiêm Lạp cũng không phải hoàn toàn là
giống hư hèn, cũng là những cái dân đã từng có một nền văn-minh rất sớm,
thế mà lấy như một dân tộc nhỏ ở trong mảnh đất Giao-chỉ nọ, ngày lần
tháng nữa, đã nghiễm nhiên phá diệt được cả Chiêm-thành lẫn Chân-lạp mà
dựng nên một nước lớn Việt-Nam, đủ biết cái công phu huyết hãn của các
đứng tiên dân ta xưa, thực đã lớn lao vô cùng vậy.
Cứ như các nhà nhân-chủng-học thì bảo dân tộc ta thuộc giống Môngcổ, song cỗi gốc từ đâu mà đến thì mỗi sách nói một khác không sao đủ
bằng cứ được. Sách thì bảo dân ta là ròng rõi Tây-tạng, sách thì bảo là ròng
rõi Giao-chỉ, sách thì bảo là ròng rõi Việt thường, sách thì bảo là ròng rõi
nước Việt bên Tàu, tổng chi đều là những nhời ức đoán cả, chứ không lấy gì
làm đích xác. Vậy chúng ta chỉ nên biết rằng chúng ta là riêng một dân tộc ở
trong thế giới, tức ngày nay gọi là dân tộc Việt-nam.
Xét về cương vực nước ta đời Hùng dựng nước, đồ bản lúc ấy khác hẳn
bây giờ ; cứ như sử cũ thì nói bấy giờ phía đông giáp bể Nam, phía tây giáp
Ba-thục (tỉnh Tứ-xuyên nước Tầu bây giờ) phía bắc hồ Đỗng đình (thuộc
tỉnh Hồ-nam) phía nam đến nước Hồ-tôn (sau là Chiêm-thành), quốc hiệu là
https://thuviensach.vn
nước Văn-lang. Cuối đời Hùng-vương (258 trước tây lịch), Thục-Phán diệt
nước Văn-lang dựng nước Âu-lạc, tức là Thục An-dương-vương. Năm Đinh
Hợi (214 trước T.L) nước Âu-lạc bị nước Tần đem quân sang lấn, lấy đất
Lục lương mà đặt ra 3 quận : Nam-hải (Quảng-đông) Quế-lâm (Quảng-tây)
1
Tượng-quận (Quảng-tây) . Cuối đời Tần (207 trước T.L) quan Úy quận
Nam-hải nhà Tần là Triệu-Đà đêm quân diệt nước Âu-lạc mà dựng nên nước
Nam-Việt, xưng là Triệu Vũ-vương, đất cát gồm có 3 quận trên và cả đất của
Thục An dương vương. Năm Canh ngọ (111 trước T.L) đời Thuật dương
vương nhà Triệu, nước Nam-Việt bị nước Hán diệt mất, thế là từ đó phải nội
thuộc về Tầu. Đời Hán Quang-Vũ năm Kiến-vũ thứ 16 (Tây lịch 40) vua
Trưng giấy quân đuổi quan Thái-thú nhà Hán là Tô-Định, lấy lại được 65
thành đất Lĩnh-nam. Cứ theo như sách Thoái thực ký văn của cụ Trương
Quốc Dụng chép thì nói nước ta sau khi nội thuộc về nhà Tây-Hán, nhà Hán
chia đất đặt ra 9 quận là Nam-hải, Uất-lâm, Thương ngô, Hợp-phố, Nhậtnam, Cửu-chân, Giao-chỉ, Đam-nhĩ, Châu-nhai mà gọi chung là bộ Giao-chỉ,
sau lại bãi 2 quận Châu-nhai Đam-nhĩ mà hợp vào làm 7 quận, quận Giaochỉ lĩnh 12 thành, (tức là huyện), quận Cửu-chân lĩnh 5 thành, quận NhậtNam lĩnh 5 thành, quận Nam-hải lĩnh 7 thành, quận Thương-ngô lĩnh 11
thành, quận Uất-lâm lĩnh 11 thành, quận Hợp-phố lĩnh 5 thành, cả thẩy là 56
thành ; vậy thì Đại-Việt sử ký chép là vua Trưng đánh đuổi Tô-Định lấy
được 65 thành, có lẽ là số 56 mà nhầm là 65 chăng ? Như thế thì đời vua
Trưng cũng có thu phục được cả Quảng-đông Quảng-tây vậy.
Sau khi vua Trưng mất nước, nước ta lại nội thuộc về nhà Đông-Hán.
Năm Kiến-an thứ 15 (210) đời Hán Hiến-đế, nhà Hán đổi bộ Giao-chỉ mà
đặt làm Giao-châu. Năm Hoàng-vũ thứ 5 (266) nhà Ngô, Ngô-Tôn-Quyền
cắt 3 quận Nam hải, Thương-ngô, Uất-lâm lập làm Quảng-châu, còn 4 quận
kia vẫn để làm Giao-châu, nhưng không bao lâu lại hợp lại như cũ. Đến năm
Vĩnh-an thứ 7 (264) Ngô-Tôn-Hưu lại lấy 3 quận trước mà đặt làm Quảng
châu, châu Giao châu Quảng chia hẳn ra bắt đầu từ đấy, mà chính là khởi
điểm cho sự mất đi quá nửa phần đất của nước ta vậy. Từ đấy về sau trải qua
mấy phen cách mệnh, nhưng người mình cũng chỉ khôi phục được đất châu
https://thuviensach.vn
Giao mà thôi ; đến đời Ngô, Đinh độc lập mà đất châu Quảng đã không còn
mong gì khôi phục lại được nữa.
Mở xem bản đồ thì nước ta mất đất châu Quảng tức là mất đi quá nửa
phần nước, cương vực chỉ còn quanh một xứ Bắc-Kỳ và 3 tỉnh Thanh, Nghệ
Tĩnh phía Bắc Trung-kỳ mà thôi. Đất thì nhỏ hẹp mà số dân sinh sản một
ngày một nhiều, sự thế không thể không tìm đường bành trướng. Như trên
đã nói, ba mặt đông tây bắc không phải là con đường có thể tiến được, tự
nhiên là phải tiến xuống mặt nam, huống chi những dân Chiêm-Thành,
Chân-Lạp ở mặt nam lại thường hay vào quấy nhiễu nước ta, ta chẳng diệt
họ thì họ cũng chẳng để cho ta được yên, nhân thế mà nam tiến là một con
đường phải đi của ta, mà sự mở mang bờ cõi của nước ta gồm cả ở trong
một cuộc nam tiến vậy.
Nay xin lần lượt chép về cuộc nam tiến ấy. Đời vua Lê Đại-Hành niên
hiệu Ứng thiên năm thứ 8 (1000) bấy giờ vì nước Chiêm-Thành bắt giam sứgiả nước ta là bọn Từ-Mục, Ngô-Tử, vua giận, tự làm tướng đem quân vào
đánh chém được tướng Chiêm là Ti-mi-thuế, Chiêm-vương phải bỏ chạy,
quân ta lấy được vàng bạc của cải rất nhiều. Vua Đại-Hành lại sai Ngô-TửYên đem 3 vạn quân mở một con đường đi bộ từ cửa bể Nam-giới cho đến
châu Đại-lái (đất Chiêm, nay là phủ Quảng ninh thuộc tỉnh Quảng-bình). Lại
đào một con sông từ núi Đồng-cổ cho đến con sông Bà-hoà tức là con sông
ở xã Đồng-hoà, huyện Ngọc-sơn bây giờ. Ấy tức là khởi đầu cho bước
đường nam tiến của dân tộc ta, vì có hai đường thuỷ lục ấy thì quân ta vào
đánh Chiêm-Thành mới được tiện đường vận tải vậy.
Nói đến nước Chiêm-Thành tưởng cũng nên thuật về lịch-sử của nước
ấy. Nước Chiêm-Thành khi xưa là nước Hồ-Tôn, thuộc về bộ Việt-Thường.
Đến nhà Tần đặt làm huyện Lâm-Ấp. Nhà Hán lại đổi làm huyện TượngLâm thuộc về quận Nhật-Nam. Đến thời vua Thuận-Đế nhà Hán năm VĩnhHoà thứ 2 (137) người trong quận ấy tên là Khu-Liên đương làm chức
Công-Tào, bèn giết quan huyện lệnh mà giữ lấy đất tự xưng là Lâm-ấpvương. Truyền được vài đời rồi cháu ngoại là Phạm-Dật kế lập, Dật mất,
2
người tướng là Phạm Văn cướp ngôi rồi đánh lấn lấy đất nước láng giềng.
https://thuviensach.vn
Từ đó nước mới rộng lớn, Đông Tây rộng 700 dặm. Nam Bắc dài 3000 dặm,
phía nam gọi là châu Thi Bị, phía tây gọi là châu Thượng Nguyên, phía Bắc
gọi là châu Ô lỵ, thống trị cả thẩy 38 châu.
Đời vua Mục Đế nhà Tấn (347) Phạm văn đem quân đánh Nhật Nam
rồi chiếm lấy đất, nói với quan Thứ Sử Giao Châu là Chu Phồn xin từ núi
Hoành Sơn ở phía Bắc Nhật Nam làm địa giới của mình. Phồn không nghe,
đến khi Văn mất, con là Phật lên nối ngôi vẫn đóng ở Nhật Nam. Sau bị
quan thái thú Cửu-châu là Quán Toại đánh đuổi đi, bèn lại trở về Lâm Ấp.
Năm Nghĩa Hy thứ 9 (413) đời nhà Tấn vua Lâm Ấp là Phạm Hồ Đạt
vào cướp quận Cửu-châu bị quan thứ sử Giao-chân là Tuệ Đô đánh chém
được. Đến đời Nguyên Giả nhà Tống, vua Lâm Ấp là Phạm-dương-Mại sai
sứ sang cống nhà Tống và xin được lĩnh Giao Châu, nhà Tống không cho,
bèn lại cướp bóc như cũ. Nhà Tống sai Dân Hoà Chi và Tôn Xác đi đánh
phá được quân Lâm-Ấp. Dương Mại chỉ thoát được một mình chạy trốn.
Đến sau Phạm Chi nối ngôi, lại vào cướp Nhật Nam. Thời vua Dạng Đế nhà
Tuỳ, niên hiệu Đại Nghiệp năm Dần (605) sai tổng quản Hoan Châu là LưuPhương đến đánh, đem quân sang đò Đồ lễ đi qua về phía nam cột đồng trụ
8 ngày mới vào đến quốc Đô, Phương vào thành bắt được 18 bộ thần chủ
bằng vàng bởi vì truyền quốc đến đó được 18 đời vậy. Thế là Lâm Ấp bị
diệt, từ đó đất thuộc về nhà Tuỳ. Nhà Tuỳ chia đặt ra làm 3 châu là : Đãngchâu (Quảng-Bình, Quảng-Trị, Thừa-thiên), Nông-châu (Quảng-nam,
Quảng-ngãi) Xung-châu (Bình-định, Phú-yên). Kế lại đổi Đãng-Châu làm
quận Tị-Cảnh thống 4 huyện Tị Cảnh, Chu Ngô, Gia Lãnh, Tây Quyền ;
Nông Châu làm quận Hải Âm thống 4 huyện Tân Dung, Châu Long, Đa
Nông, An-Tạc ; Xung Châu làm quận Lâm Ấp thống 4 huyện Tương Phố,
Kim Sơn, Giao Dang, Nam Cục. Cuối đời nhà Tuỳ Phạm Chí lại họp quân
chiếm giữ đất cũ. Đầu đời Đường, nhà Đường lại dụ hàng được Chí, mới đổi
Lâm Ấp làm Lâm Châu, Tị Cảnh làm Lãng Châu, Hải Âm là Sơn Châu.
Năm Trình Quán thứ 2 (628) cháu Phạm Chí là Phạm Đầu Lê, khôi phục
được nước, sai sứ dâng hạt Hoả Chu chim yểng ngũ sắc và sừng thông thiên
tê sang nhà Đường. Đầu Lê mất, con là Long nối ngôi, Long lại bị tên Ma-
https://thuviensach.vn
Aman, Đa-già-Độc giết mất. Người trong nước bèn lập người con nhà cô
Đầu Lê là Chư cát Địa lên làm vua đổi quốc hiệu là Hoàn Vương. Trong
năm Nguyên Hoà đời Đường Hiến-Tôn, nước Hoàn Vương lại vào cướp
châu Hoan, châu Ái (Thanh Nghệ Tĩnh) bị hai quan đô hộ A nam đánh thua,
bèn bỏ Lâm Ấp mà dời nước vào Chiêm, xưng nước là Chiêm Thành (vì chỗ
đó có ngọn núi Chiêm bất La) đến khi nước ta Độc Lập về thời nhà Đinh,
Chiêm Thành định vào cướp kinh thành Hoa Lư (Ninh Bình), xong Hải quân
khi vượt qua cửa bể Đại Ác thì bị bại mà chạy về. Đến đời nhà Lê, Chiêm lại
bắt giam xứ giả nước ta, vì vậy quân ta lại vào đánh chém được tướng
Chiêm và phá tan thành trở về. Đến đời nhà Lý vua Thái Tổ năm Thuận
Thiên thứ 2 (1001) quân ta lại vào đánh Chiêm Thành ở trại Bố Chính
(Quảng Bình) đuổi giặc đến tận núi Long Tỵ (núi này ở tận phía tây huyện
Bình Chính năm dậm).
Đời vua Thái Tôn nhân nước Chiêm thành đã cách 16 năm không chịu
vào dưng đồ cống hiến, vua Thái-tôn bèn định ra oai cho họ biết sợ, mới
đóng ra mấy trăm chiếc tàu chiến theo các hình rồng phượng cá rắn hùm beo
anh võ, luyện tập quân thuỷ quân bộ cho được tinh nhuệ. Niên hiệu Thiên
cảm thánh võ năm đầu (1044) quân ta bèn đại cử vào đánh Chiêm, do vua
Thái-tôn thân đi làm tướng, theo đường thuỷ tiến vào cửa bể Ô-long (nay là
cửa Tư-hiền, ở phía đông bắc huyện Phú-lộc 1 dậm thuộc về tỉnh Thừathiên) đánh nhau với Chiêm-thành một trận, quân họ phải thua, chém được
vua họ là Xạ-Đẩu và giết chết quân họ hơn 3 vạn người, bắt sống được 5
nghìn người, 30 con voi. Rồi tiến vào thành Phật-thệ (ở xã Nguyệt-biều tỉnh
3
Thừa-thiên bây giờ) bắt vợ con vua họ đem về . Còn những người của nước
ấy bắt được thì đem phân sáp vào trấn Vĩnh-khang, (tức phủ Tương dương
Nghệ-an) trấn Đăng-châu tức phủ Quy hoá) mà lập ra làm phường ấp. Đời
vua Thánh tôn niên hiệu Thiên-huống-bảo-tượng năm thứ 2 (1069), quân
Chiêm vào cướp, vua giao cho nguyên-phi quyền coi việc nước, tự làm
tướng đi thân chinh, bắt được vua Chiêm là Chế-Củ và 5 vạn người Chiêm
đem về. Chế-Củ xin dâng đất 3 châu là châu Địa-lái (nay là đất phủ Quảngninh tỉnh Quảng-bình), châu Bố-chinh (nay là đất phủ Quảng-Trạch tỉnh
Quảng-bình), châu Ma-linh (nay là đất phủ Triệu-phong tỉnh Quảng-trị) để
https://thuviensach.vn
chuộc tội mới được tha về. Đời vua Nhân-Tôn năm Thái-ninh thứ 4 (1075)
vua sai ông Lý-thường-Kiệt vào kinh lý 3 châu ấy, vẽ thành địa đồ, đổi châu
Địa-lái làm châu Lâm-bình, châu Bố-chinh, châu Ma-linh làm châu Minh
linh, rồi chiêu dụ cho dân đường ngoài vào ở. Chế-Củ mất, Chế-ma-Na nối
ngôi, lại cướp lấy 3 châu ấy. Năm Long-phù thứ 4 (1104), quân ta lại vào
đánh, do ông Lý-thường-Kiệt làm tướng, đánh phá được Chiêm thành, Chếma-na lại phải nộp giả đất 3 châu. Thế là đất Quảng-bình và một phần đất
Quảng-trị từ đó thuộc hẳn về ta vậy.
Thời vua Lý-Thần-Tôn, Chiêm-thành cùng Chân-lạp ra cướp Nghệ-an,
bị quan Thái thú là Dưỡng anh-Nhĩ đánh thua phải chạy. Sau họ lại thường
đem thuỷ sư ra cướp bóc các miền ven bể.
Sang đời nhà Trần, vua Thái-tôn đi thân chinh, bắt được vua Chiêm là
Lâu-bố-gia-la và những nhân dân đem về. Năm Hưng Long thứ 10 đời vua
Trần-Anh-Tôn (1302), vua Chiêm-thành là Chế-Mân sai sứ ra cầu hôn và
xin nộp hai châu Ô, Lỵ làm đồ cưới. Vua Anh-Tôn đem bà Huyền-Trân công
chúa gả cho rồi đổi châu Ô làm Thuận châu (đất phía Nam tỉnh Quảng-trị)
châu Lỵ làm Hoá-châu (Thừa-thiên và phía bắc Quảng-nam). Thế là bước
đường nam tiến của dân tộc ta đã tiến đến nửa tỉnh Quảng-nam rồi vậy.
Sau đó Chiêm-thành thường hay đem quân ra cướp để báo thù. Cuối
đời nhà Trần, Chiêm-thành 3 lần ra cướp phá kinh thành Thăng-long và mấy
lần cướp phá Thanh Nghệ, nhân dân cũng chết hại rất nhiều, vua Trần-Duệtôn đi thân chinh (1376) dẫn quân đến cửa bể Thi nại (ở phía đông huyện
Tuy-phúc tỉnh Bình-định bây giờ), vua Chiêm là Chế-bồng-nga trá hàng rồi
phục quân mà đánh chặn ngang, vua Duệ-tôn phải tử trận, quân sĩ chết mất
nhiều lắm. Đời vua Thuận-tôn, Thượng tướng quân Trần-Khát-Trân đón
đánh ở sông Hải-trào, Chế-bồng-nga tin phải đạn mà chết ; bộ tướng là LaKhải dẫn quân về giữ lấy nước tự lập làm vua, bấy giờ cái nạn giặc Chiêmthành mới tạm yên.
Đời nhà Hồ niên hiệu Thánh nguyên năm đầu (1400), Hồ-Quý-Ly sai
Hành-khiển Đỗ-Hải làm Thuỷ quân đô tướng, tướng Tả thánh dực quân
Trần-Vấn làm Đồng đô tướng, tướng Long-tiệp-quân Trần-Tùng làm Bộ
https://thuviensach.vn
quân đô tướng, tướng Hữu thánh dực quân Đỗ nguyên Thác làm Đồng đô
tướng, đem 15 vạn quân đi đánh Chiêm-thành. Bộ quân Đô tướng TrầnTùng vì nghe nhời Đinh-đại-Trung, dẫn quân đi tận mạn sơn cước, cách xa
với thuỷ quân quá, xẩy gập khi mưa lũ nước lụt, tướng sĩ đành đóng lại ở
giữa đường, tuyệt lương trong 3 ngày giời, phải nướng áo giáp bằng da ra
mà ăn. Khi hồi quân, Trần-Tùng xuýt phải tội chết, nhưng vì có công lao
trước, được miễn tội chết mà phải đầy làm quân lính.
Năm Thiệu-thành thứ 2 (1402) mùa xuân tháng hai, vua Hồ-HánThương sai sửa định quân ngũ. Tháng ba sai sửa một con đường từ thành
Tây-đô (ở xã An-tôn huyện Vĩnh-lộc tỉnh Thanh-hoá bây giờ) đến Hoá-châu
(Thừa-thiên), dọc đường đặt ra phố sá và nhà trạm gọi là đường thiên lý.
Mùa hạ tháng sáu Hán-Thương cất đại quân vào đánh Chiêm-thành, lấy ĐỗMãn làm Đô tướng, Nguyễn-Vi làm Chiêu dụ sứ, Nguyễn-bằng-Cử làm
Đồng Chiêu dụ sứ. Quân ta đến bờ cõi Chiêm-thành ; Đinh-đại-Trung cưỡi
ngựa đi tiên phong, gập tướng giặc là Chế-cha-nan, hai người giao chiến
cùng chết cả. Vua Chiêm là Ba-đích-lại (con La-Khải) sợ hãi, sai Cậu là Bốđiền đem dâng 2 con voi, một con đen một con trắng cùng mọi đồ phương
vật, lại dâng đất Chiêm-động để xin ta lui quân. Bố-điền đến, Hán-Thương
bắt hiếp phải chữa lại tờ biểu, nói dâng cả đất Chiêm-động và đất Cổ-luỹ ;
rồi chia đất Chiêm-động ra làm châu Thăng châu Hoa (đất phía Nam tỉnh
Quảng-nam), chia đất Cổ-luỹ ra làm châu Tư châu Nghĩa (Quảng Nghĩa) đặt
quan Thăng-hoa an-phủ-sứ để thống trị các châu ấy. Về mạn thượng du thì
đặt ra làm trấn Tân-ninh. Chiêm-thành đem những nhân dân ở các đất ấy về
nước, còn thì ta thu dùng làm quân. Hán-Thương bèn đổi quan An-phủ sứ lộ
4
Thuận-hoá là Nguyễn-cảnh-Chân vào làm Thăng-hoa An-phủ-sứ, rồi thiên
dân mạn bắc vào ở mấy châu ấy, cho cả vợ con được đi theo ; lại cho dân
nộp trâu chuộc tội để lấy trâu mà cấp cho những dân thiên cư ấy. Từ đó dân
ta thiên vào ở mặt nam càng ngày càng nhiều.
Hiệu Khai đại năm đầu (1403), quân ta lại vào đánh Chiêm-thành, vua
Hồ-Hán-Thương dự chia đất Chiêm ra làm các châu huyện, sai Phạmnguyên-Khôi thống xuất hai mươi vạn quân thuỷ bộ tiến vào. Quân pháp rất
https://thuviensach.vn
nghiêm, người nào lâm trận mà nhút nhát sẽ bị tội chém, vợ con điền sản sẽ
phải thu làm của quan. Đại quân vào đến Chiêm-thành, vây thành Đồ-bàn
(Bình-định) nhưng vì quân đi đã chín tháng giời, lương hết lại phải kéo về.
Không được bao lâu thì nhà Hồ bại ; quân Minh vào chiếm nước ta, ta
còn lo chống chọi với giặc Minh chưa xong, vua Chiêm-thành là Ba-Đíchlại nhân dịp đó chiếm lấy 4 châu Thăng, Hoa, Tư, Nghĩa mà lại hay vào biên
cương cướp phá. Sau khi nhà Lê phục quốc, niên hiệu Thái-hoá thứ 2
(1444), vua Chiêm là Bí-Cai lại vào cướp phá đất Hoá-châu ; vua Nhân-tôn
mới sai ông Lê-Phụ, ông Lê-Khả vào đánh thành Đồ-Bàn, bắt Bí-Cai đem
về. Người trong nước mới lập người cháu vua cũ Bố-Đề là Ma-a-quy-lai lên
làm vua. Em Quy-lai là Quy-Do lại giam anh mà tự lập. Sau Bàn-la-tràduyệt giết Quy-Do mà cướp lấy rồi truyền ngôi cho con là Bàn-la-trà-toàn.
Năm Hồng-Đức thứ 1 (1470) mùa thu tháng 8 vua Chiêm là Bàn-la-trà-toàn
thân xuất thuỷ bộ tượng mã vào cướp Hoá-châu. Trấn tướng Hoá-châu là
Phạm-văn-Hiển thế không địch nổi mới dồn dân vào cả trong thành rồi đưa
thư cáo cấp về triều. Vua Thánh-Tôn liền xuống dụ trưng binh mộ tướng.
Tháng 11, định ra 52 điều quân luật. Ngày mồng 6, vua xuống một tờ chiếu
nói việc thân chinh Chiêm-thành, sai thái-sư Lân-quận-công Đinh-Liệt,
Thái-bảo Kỳ-quận-công Lê-Kiện lĩnh quân ba phủ đông nam bắc đi trước,
ban bố 24 điều về việc đi đánh Chiêm-thành ra các dinh và các vệ Cẩm-y,
Kim-ngô, Thân-vũ Điện-tiền. Ngày mồng 7, vua vào làm lễ cáo ở nhà Tháimiếu. Ngày 16, vua thân xuất đại quân tiến đi, sai bọn tả đô đốc Lê-hy-Cát,
Hữu đô-đốc Lê-cảnh-Huy ở lại kinh thành lưu thủ. Ngày hôm ấy ngự giá
khởi hành, có mưa phùn và có gió bắc, vua có làm mấy câu thơ rằng :
« Trăm muôn tướng sĩ ruổi lên đường, lấm tấm mưa nhuần, gió bắc
phương », tức là bài thơ kỷ thực đó. Sai Nguyễn-như-Đổ đến tế ở miếu vua
Đinh-Tiên-Hoàng, để cầu quân đi được thắng trận. Vua lấy bức địa đồ
Chiêm-thành, đổi đặt lại những tên sông núi. Ngày mồng 3 tháng 12, đại giá
đến Thiết-sơn. Ngày 18, thủy quân vào đến Chiêm-thành.Năm Hồng-Đức
thứ 2 (1471), ngày mồng 2 tháng Giêng, vua nghĩ rằng đại tướng quân đem
quân bước vào cõi giặc thì cần phải có quân sĩ tinh luyện, bèn truyền cho
quân Thuận-hoá đều phải ra bể để thao diễn về đường thuỷ chiến. Vua lại lo
https://thuviensach.vn
rằng núi sông nước Chiêm nhiều chỗ hóc hiểm chưa biết, bèn sai người thổ
tù Thuận-hoá là Nguyễn-Vũ vẽ một bức tường đồ dâng trình. Ngày mồng 6
viên Chỉ huy là Cương-Viễn bắt đem đến nộp một tên coi giữ ở cửa quan
Câu đê Chiêm-thành là Bồng nga. Viên tù trưởng Sa bôi là Cầm tích, tù
trưởng Thuận bình là Đạo-Vũ hôm ấy cũng vào chầu dâng đồ phương vật.
Sứ thần Ai-lao là bọn Lang-lệ cũng đem đồ phương vật lại dâng. Vua thân
soạn bài sách Bình Chiêm ban ra các dinh, trong bài sách nói có 10 lẽ có thể
thắng và có 3 việc đáng nên sợ. Vua sợ tướng sĩ chưa hiểu, sai quan Chỉ huy
Nguyễn-thế-Mỹ dịch ra quốc ngữ cho mọi người đều biết. Lại sai quan
Giám-sát ngự-sử Lê-bá-Di đem thóc kho Thuận hoá mà chuyển vận đến nơi
hành tại. Ngày mồng 5 tháng 2 vua Chiêm là Trà-Toàn sai em là Thi-Nại và
đại thần 6 người đem 8 nghìn binh tượng lẻn đến gần dinh vua để mưu đánh
úp. Ngày mồng 7 vua sai Tả-du-kích tướng-quân Lê hy Cát, Hoàng nhân
Thiêm, và tiên phong tướng quân Lê-Thế, Trịnh-văn-Sái đem hơn 5 trăm
chiếc tầu 3 vạn tinh binh, đang đêm lẻn ra cửa bể Cựu-áp (nay là Tiểu áp
thuộc huyện Hà-đông Quảng-nam), kịp vượt bể lẻn vào cửa Sa kỳ (cửa này
nay ở phía đông nam huyện Bình-sơn tỉnh Quảng-nghĩa) lập luỹ đắp thành
để chặn đường về của giặc. Quân Chiêm vẫn không biết gì cả. Ngày mồng 7,
vua thân xuất thuỷ quân hơn nghìn chiếc tàu, 70 (?) vạn tinh binh kéo ra hai
cửa bể Tân áp Cựu áp (Tân áp nay là Đại áp cũng ở huyện Hà đông, Quảngnam) cờ bay rợp bể, trống đánh vang giời, quân reo rầm rĩ mà tiến vào cửa
bể Thái cần (Quảng-nghĩa) mật sai tướng bộ quân là Nguyễn-Đức-Trung
đem bộ binh lẻn đến mạn sơn cước. Quân Chiêm trông thấy quân vua ầm ầm
kéo đến đều sợ hãi, chạy cả về thành Đồ-bàn. Về đến núi Mạc-nô chợt thấy
Hy-cát đã chẹn mất đường về, hoảng hốt phải chạy vào đường núi, khí giới
lương thảo bỏ lại đầy đồng, người ngựa ngã chết khắp núi. Bọn Lê-Niệm
Ngô-Hồng phái binh đuổi đánh, chém chết được một viên đại tướng. Trà
Toàn nghe tin em thua chạy, sợ hãi, vội sai người thân tín dâng biểu xin
hàng. Vua không nghe. Ngày 27, vua thân xuất đại quân phá thành Thi nại,
chém được hơn trăm thủ cấp. Ngày 28 vua tiến binh vây thành Đồ bàn.
Ngày 29, đến sát chân thành vây chặt mấy vòng. Ngày mồng 1 tháng 3, vua
truyền lệnh cho các đạo quân đồng thời đánh thành và làm thang bắc trèo lên
https://thuviensach.vn
mặt thành. Một lúc, vua trông thấy quân tiền kỵ đã trèo được lên tường
thành, bèn phát 3 tiếng súng hiệu, truyền quân chém phá cửa đông tiến vào,
lại sai Đồng thái giám Nguyễn-Đam truyền cho các quân sau khi vào thành
phàm các kho đạn tài vật không được cướp phá. Chiêm chúa Trà-toàn bắt
được không được giết chết. Quân ta hạ được thành, bắt được hơn 3 vạn
người, chém được hơn bốn vạn cấp. Vua sai quan chỉ huy Ngô-Nhạn dẫn
hàng tướng của Chiêm là Bồ-sản-ba-ma đến, sai dàn bầy những của báu đồ
vật gì của Chiêm mà nước ta không có để vua coi. Lệnh-uý Đỗ-Hoàn trỏ
khắp từng thứ. Có một cái hộp bạc, hình như cái gươm. Vua hỏi đó là vật
gì ? Hoàn tâu vật ấy từ xưa đến nay phàm vua nước Chiêm tất đều phải có,
rồi đời nọ truyền cho đời kia. Quân Thuận-hoá bắt sống được Trà-Toàn dẫn
đến trước mặt vua, Trà-Toàn phục lạy xuống đất. Vua hỏi rằng : « Nhà ngươi
có phải là vua Chiêm không ? » Trà-Toàn thưa phải. Vua hỏi : « Nhà ngươi
có mấy con ? » Trà-Toàn thưa có hơn 10 con. Đỗ-Hoàn nói : « Hắn đã biết
phép thì xin bệ hạ tha chết cho hắn ». Vua bảo Trà Toàn rằng : « Trong vòng
gươm súng, ta chỉ e nhà ngươi ngộ hại, may không hề gì như thế, ta thật yên
lòng ». Bèn sai đem Trà Toàn cho ra ở tạm một cái nhà nhỏ. Quân sĩ điệu đi
mau quá. Vua bảo : « Thong thả chứ mà ! Hắn là vua một nước, không nên
làm quẫn bách hắn quá như thế ».
Trà Toàn đã bị bắt, có người tướng của Trà Toàn là Bô tri trì chạy đến
Phan lung (thuộc Bình thuận) giữ được chừng một phần năm đất Chiêm cũ
mà xưng là Chiêm thành vương, sai sứ xưng thần phụng cống. Vua bèn đi
kinh lý đến núi Thạch bi (thuộc phủ Tuy hoà, tỉnh Phú yên) dựng bia định
địa giới ở núi ấy (bia ấy nay hãy còn, nhưng mòn quá không trông rõ chữ).
Còn từ núi Cầu mông (thuộc huyện Đồng xuân, tỉnh Phú yên) trở về phía
nam thì ưng phong cho Bô tri trì làm vua Chiêm thành, giữ đất để cung chức
cống ; lại phong thêm hai vua Hoa anh Nam bàn và chia ra làm 3 nước để
dàng buộc lẫn nhau.
Trận bình-Chiêm này, quân thanh của ta lừng lẫy xa gần, khi đại quân
khải hoàn, những thổ tù ở các động mán đều đua nhau đem đồ trâu bảo tiến
https://thuviensach.vn
cống. Trà Toàn bị giải về đến sông Thiên phái thì lo sợ mà chết, vua sai
chém đầu bêu ở đầu thuyền.
Thế là bước đường nam tiến của dân tộc ta sau trận này thì đã tiến đến
biên giới phía bắc tỉnh Phú yên rồi vậy.
Tháng 6 năm ấy (1471), vua Lê Thánh Tôn lấy đất Chiêm-thành mà đặt
làm Quảng-nam thừa-tuyên và vệ Thăng hoa, và đặt ra Quảng nam tam ty.
Năm Hồng đức thứ 3 (1472) em Trà Toàn là Trà Toại trốn vào trong
núi, rồi sai sứ cáo nạn với nhà Minh và xin phong. Vua Thánh tôn sai Lê
Niệm đem binh đuổi theo bắt được Trà Toại, hơn 30 năm rồi chết ở đó.
Năm thứ 21 (1490) định bản đồ trong nước thì thừa tuyên Quảng nam
lĩnh 3 phủ 9 huyện : 1. Phủ Thăng hoa thống 3 huyện Lê giang, Hy giang,
Hà đông. 2. Phủ Tư nghĩa, thống 3 huyện Nghĩa giang, Bình dương, Mộ hoa
(nay Quảng nghĩa) 3. Phủ Hoài nhân, thống 3 huyện Bồng sơn Phù ly, Tuy
viễn, (nay Bình định). Thời vua Lê Hiến tôn, con Trà Toại Trà Phúc lấy trộm
hài cốt cha trốn về nước rồi sai người sang nhà Minh cầu cứu đóng thuyền
bè chứa lương để đồ phản kháng. Đòi vua Uy mục bắt được mấy người
Chiêm ở ngoài bể, tra biết mưu ấy, bèn sai Lý tử Vân vào kinh lý Quảng
nam để phòng bị, việc ấy mới yên.
Đến đời họ Nguyễn làm chúa phía nam, Chiêm thành vẫn thần phục,
sau lại thường hay quấy nhiễu ngoài ven. Năm Tân-hợi (1611), Gia dụ
vương sai chủ sự là Văn Phong lĩnh binh đi đánh, chiếm lấy đất đặt làm phủ
Phú-an, lĩnh 2 huyện Đồng xuân Tuy hoà (nay tức là tỉnh Phú-an), rồi sai
Văn Phong lưu thủ đất ấy. Đến đời Sĩ vương, Văn Phong làm phản. Sĩ
vương sai phó tướng là Nguyễn-phúc-Vĩnh giẹp tan được rồi lập đất ấy làm
doanh Trấn biên.
Thời Hiền vương, vua Chiêm-thành là Bà tấm xâm vào Phú-an, vương
sai cai cơ là Hùng Lộc làm thống binh, sá sai là Minh Võ làm tham mưu,
lĩnh 3000 quân đi đánh Hùng lộc tiến binh qua núi Thạch bi, kéo thẳng đến
thành, thừa lúc ban đêm phóng hoả đánh phá. Bà tấm phải chạy đi trốn.
Quân ta chiếm đất đến sông Phan giang (1656), rồi lấy ở phía đông sông ấy
https://thuviensach.vn
đặt ra hai phủ Thái khang (nay Ninh hoà), Diên Ninh (nay Diên khánh, phủ
Thái khang thống 2 huyện Quảng phúc, Tân định, phủ Diên ninh thống 3
huyện. Phúc điền, Quảng xương, Hoa châu, lập ra doanh Thái khang ở Nha
trang (nay là tỉnh thành Khánh hoà) để thống trị. Còn phía tây sông ấy thì
giả lại cho Chiêm thành, bắt phải hàng năm vào cống hiến.
Thời Minh vương năm 1691, vua Chiêm là Bà tranh lại vào quấy nhiễu
phủ Diên ninh. Vương sai Nguyễn hữu-kính làm Thống binh đi đánh, bắt
được Bà tranh và bọn bề tôi là Kế bà tử và bọn thân thuộc là Nương-my Bàân đem về giam ở núi Ngọc chản, đổi nước Chiêm thành đặt là trấn Thuận
thành. Vương lại sai Nguyễn-tri-Thắng giữ Phố-hài, Nguyễn-tán-Lễ giữ
Phan-lý, Chu-kiêm-Thắng giữ Phan-lang để phòng những dư đảng Thuận
thành. Sau lại đổi làm phủ Bình thuận cho đến Kế-bà-tử làm Khánh lý và
cho ba con của Bà-ân làm Đề-Đốc, Đề-lĩnh, Cai phủ, bắt phải vận mặc theo
kiểu ta, rồi cho về để cai trị lấy dân.
Tháng chạp năm ấy, người Tàu tên là A-ban cùng với người Chiêm
thành là Ô-nha-trát nổi loạn, Minh-vương sai Nguyễn-hữu-Kính cất quân
vào giẹp tan được đám ấy. Kế-bà-tử kêu rằng : « Từ khi thay đổi chính-trị
đến nay, mùa màng mất luôn, nhân dân thì sinh ra tật dịch ». Vương thương
tình, bèn lại phong cho Kế-bà-tử làm Thuận-thành-trấn phiên-vương để phủ
trị lấy binh dân mà hàng năm phải vào nộp cống.
Những người ngựa và kiếm ấn trước bắt được cũng giả cho cả. Lại cấp
30 tên lính kinh để bảo hộ giúp cho. Năm Chính hoà thứ 18 (1697) mới lại
lấy đất của Thuận-thành vương mà đặt làm phủ Bình-thuận, lấy đất Phan-lý
Phan-lang đặt làm 2 huyện An-phúc Hoà-đa. Từ đó Chiêm thành mất hẳn về
bản đồ nước ta vậy. Đó là bước nam tiến của dân ta đã đến hết đất Trung-kỳ
giáp đất Nam-kỳ.
Nghĩ như Chiêm-thành cũng là một nước khai hoá rất sớm đã từng sản
xuất ra những bậc người tài hùng lược lớn làm cho nước ta đôi phen ăn
không ngon ngủ không yên ; thế mà hay đâu lần lần về sau đến nỗi phải táng
quốc diệt chủng ! Xét ra cớ đó chỉ vì dân họ không biết tự cường tự phấn, vì
họ chịu ở dưới cái chính thể quân chủ chuyên chế, việc nước hay dở đều
https://thuviensach.vn
mặc kệ ở lũ vua quan. Thế mà vua quan về sau chỉ thấy sản xuất những mặt
đớn hèn, lúc bình thường không chịu tu tỉnh cho nội lực được đầy đủ rồi rào,
đối với trong thì áp chế bậy, đối với ngoài thì hóc hách sằng, quân ngoài vừa
kéo đến nơi đã luỹ vỡ thành tan, cắt đất bồi khoản, ngày nay mất một khu,
sang năm mất một hạt, trách nào mà dần dần chẳng nước mất giống cũng
không còn. Ta chép đến đây luống những vì người Chiêm mà phàn nàn ái
ngại. Trong cuộc sinh tồn cạnh tranh, khoẻ sống yếu chết, coi đó mà cũng
đáng ghê thay ! cũng đáng sợ thay !
Xét tục Chiêm-thành, người nào cũng lấy chiên quấn vào bụng, bỏ giọt
dài xuống tới chân. Vạt tay áo đều hẹp. Đầu búi tóc mé sau để xoã ra. Vua
mặc áo Cát bối, đội mũ bông vàng, rủ tua thất bảo. Đùi vế đều để hở, chân đi
giày nhưng không có tấ...
Tên sách : LỊCH-SỬ NAM TIẾN CỦA DÂN TỘC VIỆT NAM
Tác giả : TRÚC-KHÊ
Nhà xuất bản : NGÀY MAI
-----------------------Nguồn sách : tusachtiengviet.com
Đánh máy : Linh2017
Kiểm tra chính tả : Ngô Thanh Tùng,
Võ Băng Châu, Dương Văn Nghĩa
Biên tập ebook : Thư Võ
Ngày hoàn thành : 27/09/2018
https://thuviensach.vn
Ebook này được thực hiện theo dự án phi lợi nhuận « SỐ HÓA 1000
QUYỂN SÁCH VIỆT MỘT THỜI VANG BÓNG » của diễn đàn TVE4U.ORG
Cảm ơn tác giả TRÚC-KHÊ và nhà xuất bản NGÀY MAI đã chia sẻ với
bạn đọc những kiến thức quý giá.
https://thuviensach.vn
TRÚC-KHÊ
LỊCH-SỬ NAM TIẾN
CỦA DÂN TỘC VIỆT NAM
(VIỆT-NAM DÂN-TỘC NAM-TIẾN SỬ)
NHÀ XUẤT BẢN NGÀY MAI
112, HÀNG BÔNG
HANOI
https://thuviensach.vn
ĐỀ-TỪ
Gấm vóc non sông một giải liền,
Máu đào xương trắng điểm tô lên.
Cơ trời dù đổi trò tang hải,
Mặt đất chưa tàn nghiệp tổ tiên.
Có nước có dân đừng rẻ rúng,
Muốn còn muốn sống phải đua chen.
Giật mình nhớ truyện nghìn năm cũ,
Chiêm Lạp ngày xưa vốn chẳng hèn.
NHƯỢNG-TỐNG KÍNH ĐỀ
https://thuviensach.vn
Bắc từ Lạng-sơn, nam Hà-tiên,
Non sông một giải đất đai liền.
Con Hồng cháu Lạc cùng cư tụ,
Con cháu còn chăng nhớ tổ-tiên ?
Tổ-tiên gây dựng biết bao công,
Đánh Lạp bình Chiêm trải mấy đông.
Nghiệp cả nối noi nên kính uý,
Sao cho không hổ giống Tiên Rồng.
TÁC-GIẢ TỰ-ĐỀ
https://thuviensach.vn
LỊCH-SỬ NAM-TIẾN CỦA DÂN-TỘC VIỆT
NAM
(VIỆT-NAM DÂN-TỘC NAM-TIẾN-SỬ)
Trúc-Khê NGÔ-VĂN-TRIỆN biên-soạn
Viên-tản cao xanh, Mê-công rộng lớn, non sông một dải, đất nước ba
phần, vui vẻ thay anh em chị em hai mươi nhăm triệu đồng bào ta ngày nay
được cùng nhau sinh tụ ở trên một cõi nước non hoa gấm, kẻ đi săn sẵn
rừng, kẻ đi cầy sẵn ruộng, kẻ làm thợ sẵn đồ nguyên liệu, kẻ đi buôn sẵn
đường bể sông, thực là một cõi rất thích nghi cho sự sinh hoạt của dân tộc ta,
tựa như ông giời kia có ý vì dân tộc ta mà riêng dành cho vậy. Tuy nhiên nói
vậy mà thôi, muôn việc ở đời, ta chớ nên lầm tưởng có ông giời kia đã vì
người mà đặt để, dời sông chuyển núi, hết thẩy đều do ở nhân-lực mà nên.
Chúng ta ngày nay được cùng nhau sinh tụ ở trên cái miếng đất Việt-Nam
tốt tươi xinh đẹp của chúng ta đây, ta chớ nên lầm tưởng là do ở sự ngẫunhiên, chính là đã nhờ ở các bực tiên-dân của dân tộc ta trải qua mấy trăm
nghìn năm, đã từng tưới dội biết bao nhiêu giọt máu đào mới tô bồi nên một
cõi đất xinh đẹp tốt-tươi cho chúng ta ngày nay đó. Than ôi ! tôi nghe có
từng biết gây dựng gian nan, thì mới biết giữ gìn báu trọng, một gã thiếuniên sinh ra ở cửa nhà hào phú, sẵn ông cha để cho tiền nghìn bạc vạn,
tưởng chừng như tiền bạc là một vật nhặt đâu cũng được, tha hồ mà hoang
toàng phung phí, dùng bậy tiêu càn, không còn biết đoái tiếc gì cả ; nhưng ví
có người bảo cho nó biết cái nông nỗi để biết bao nhiêu mồ hôi máu mặt của
ông cha nó trong khi tu tạo nên cái cơ đồ ấy, nếu nó là kẻ lương tâm chưa
mất hẳn, thì tất sẽ giật thót mình lại mà lo tự tu tự tỉnh tự phấn tự lệ để bảo
toàn lấy công nghiệp huyết hãn của ông cha. Ấy tôi viết cuốn « Lịch sử nam
tiến của dân tộc ta » đây chính là ý ấy.
Lịch sử nam tiến của dân tộc ta ra thế nào ?
Xét xem lịch sử mở mang bờ cõi của nước ta từ xưa đến nay, có thể
gồm vào mà gọi là một cuộc nam tiến ; vì trước sau ta chỉ nhằm tiến về một
https://thuviensach.vn
mặt nam mà thôi. Bởi sao mà như thế ? Bởi vì địa thế của ta nó khiến như
thế. Nước ta ngày xưa phía bắc giáp nước Tàu, phía nam giáp Chiêm, Lạp,
phía đông giáp bể lớn, phía tây giáp Ai-lao. Ở giữa cái khoảng núi Tản sông
Hồng kia nếu muốn khuếch trương bờ cõi cho rộng lớn thêm có đủ thế lực
mà lập nên một nước đứng đắn ở Á-đông, trừ tiến về mặt nam không còn
mặt nào hơn nữa. Bởi vì mặt bắc giáp nước Tàu là một nước rất lớn, lo
chống chọi với họ để họ khỏi nuốt sống mình còn lo chưa nổi, mong gì khai
thác về mặt ấy được ; mặt đông thì đã giáp bể ; mặt tây giáp với Ai-lao tuy
là một nước nhỏ yếu,nhưng vì có nhiều núi cao rừng rậm ngăn cách, thành
ra dẫu muốn mở mang về mặt ấy cũng chưa thể được ; trừ ra chỉ còn mặt
nam giáp với nước Chiêm-thành, nước Chiêm-thành lại giáp với nước Chânlạp, vì cớ đường thuỷ, đường lục được tiện, vả hai dân ấy đều là dân nhỏ yếu
có thể lấn át họ được, vì vậy mà sức bành trướng của dân tộc ta trước sau
đều chỉ tràn về mặt nam. Tuy thế mặc lòng, sự khai thác bờ cõi, há có phải là
một việc dễ đâu ; huống chi dân Chiêm Lạp cũng không phải hoàn toàn là
giống hư hèn, cũng là những cái dân đã từng có một nền văn-minh rất sớm,
thế mà lấy như một dân tộc nhỏ ở trong mảnh đất Giao-chỉ nọ, ngày lần
tháng nữa, đã nghiễm nhiên phá diệt được cả Chiêm-thành lẫn Chân-lạp mà
dựng nên một nước lớn Việt-Nam, đủ biết cái công phu huyết hãn của các
đứng tiên dân ta xưa, thực đã lớn lao vô cùng vậy.
Cứ như các nhà nhân-chủng-học thì bảo dân tộc ta thuộc giống Môngcổ, song cỗi gốc từ đâu mà đến thì mỗi sách nói một khác không sao đủ
bằng cứ được. Sách thì bảo dân ta là ròng rõi Tây-tạng, sách thì bảo là ròng
rõi Giao-chỉ, sách thì bảo là ròng rõi Việt thường, sách thì bảo là ròng rõi
nước Việt bên Tàu, tổng chi đều là những nhời ức đoán cả, chứ không lấy gì
làm đích xác. Vậy chúng ta chỉ nên biết rằng chúng ta là riêng một dân tộc ở
trong thế giới, tức ngày nay gọi là dân tộc Việt-nam.
Xét về cương vực nước ta đời Hùng dựng nước, đồ bản lúc ấy khác hẳn
bây giờ ; cứ như sử cũ thì nói bấy giờ phía đông giáp bể Nam, phía tây giáp
Ba-thục (tỉnh Tứ-xuyên nước Tầu bây giờ) phía bắc hồ Đỗng đình (thuộc
tỉnh Hồ-nam) phía nam đến nước Hồ-tôn (sau là Chiêm-thành), quốc hiệu là
https://thuviensach.vn
nước Văn-lang. Cuối đời Hùng-vương (258 trước tây lịch), Thục-Phán diệt
nước Văn-lang dựng nước Âu-lạc, tức là Thục An-dương-vương. Năm Đinh
Hợi (214 trước T.L) nước Âu-lạc bị nước Tần đem quân sang lấn, lấy đất
Lục lương mà đặt ra 3 quận : Nam-hải (Quảng-đông) Quế-lâm (Quảng-tây)
1
Tượng-quận (Quảng-tây) . Cuối đời Tần (207 trước T.L) quan Úy quận
Nam-hải nhà Tần là Triệu-Đà đêm quân diệt nước Âu-lạc mà dựng nên nước
Nam-Việt, xưng là Triệu Vũ-vương, đất cát gồm có 3 quận trên và cả đất của
Thục An dương vương. Năm Canh ngọ (111 trước T.L) đời Thuật dương
vương nhà Triệu, nước Nam-Việt bị nước Hán diệt mất, thế là từ đó phải nội
thuộc về Tầu. Đời Hán Quang-Vũ năm Kiến-vũ thứ 16 (Tây lịch 40) vua
Trưng giấy quân đuổi quan Thái-thú nhà Hán là Tô-Định, lấy lại được 65
thành đất Lĩnh-nam. Cứ theo như sách Thoái thực ký văn của cụ Trương
Quốc Dụng chép thì nói nước ta sau khi nội thuộc về nhà Tây-Hán, nhà Hán
chia đất đặt ra 9 quận là Nam-hải, Uất-lâm, Thương ngô, Hợp-phố, Nhậtnam, Cửu-chân, Giao-chỉ, Đam-nhĩ, Châu-nhai mà gọi chung là bộ Giao-chỉ,
sau lại bãi 2 quận Châu-nhai Đam-nhĩ mà hợp vào làm 7 quận, quận Giaochỉ lĩnh 12 thành, (tức là huyện), quận Cửu-chân lĩnh 5 thành, quận NhậtNam lĩnh 5 thành, quận Nam-hải lĩnh 7 thành, quận Thương-ngô lĩnh 11
thành, quận Uất-lâm lĩnh 11 thành, quận Hợp-phố lĩnh 5 thành, cả thẩy là 56
thành ; vậy thì Đại-Việt sử ký chép là vua Trưng đánh đuổi Tô-Định lấy
được 65 thành, có lẽ là số 56 mà nhầm là 65 chăng ? Như thế thì đời vua
Trưng cũng có thu phục được cả Quảng-đông Quảng-tây vậy.
Sau khi vua Trưng mất nước, nước ta lại nội thuộc về nhà Đông-Hán.
Năm Kiến-an thứ 15 (210) đời Hán Hiến-đế, nhà Hán đổi bộ Giao-chỉ mà
đặt làm Giao-châu. Năm Hoàng-vũ thứ 5 (266) nhà Ngô, Ngô-Tôn-Quyền
cắt 3 quận Nam hải, Thương-ngô, Uất-lâm lập làm Quảng-châu, còn 4 quận
kia vẫn để làm Giao-châu, nhưng không bao lâu lại hợp lại như cũ. Đến năm
Vĩnh-an thứ 7 (264) Ngô-Tôn-Hưu lại lấy 3 quận trước mà đặt làm Quảng
châu, châu Giao châu Quảng chia hẳn ra bắt đầu từ đấy, mà chính là khởi
điểm cho sự mất đi quá nửa phần đất của nước ta vậy. Từ đấy về sau trải qua
mấy phen cách mệnh, nhưng người mình cũng chỉ khôi phục được đất châu
https://thuviensach.vn
Giao mà thôi ; đến đời Ngô, Đinh độc lập mà đất châu Quảng đã không còn
mong gì khôi phục lại được nữa.
Mở xem bản đồ thì nước ta mất đất châu Quảng tức là mất đi quá nửa
phần nước, cương vực chỉ còn quanh một xứ Bắc-Kỳ và 3 tỉnh Thanh, Nghệ
Tĩnh phía Bắc Trung-kỳ mà thôi. Đất thì nhỏ hẹp mà số dân sinh sản một
ngày một nhiều, sự thế không thể không tìm đường bành trướng. Như trên
đã nói, ba mặt đông tây bắc không phải là con đường có thể tiến được, tự
nhiên là phải tiến xuống mặt nam, huống chi những dân Chiêm-Thành,
Chân-Lạp ở mặt nam lại thường hay vào quấy nhiễu nước ta, ta chẳng diệt
họ thì họ cũng chẳng để cho ta được yên, nhân thế mà nam tiến là một con
đường phải đi của ta, mà sự mở mang bờ cõi của nước ta gồm cả ở trong
một cuộc nam tiến vậy.
Nay xin lần lượt chép về cuộc nam tiến ấy. Đời vua Lê Đại-Hành niên
hiệu Ứng thiên năm thứ 8 (1000) bấy giờ vì nước Chiêm-Thành bắt giam sứgiả nước ta là bọn Từ-Mục, Ngô-Tử, vua giận, tự làm tướng đem quân vào
đánh chém được tướng Chiêm là Ti-mi-thuế, Chiêm-vương phải bỏ chạy,
quân ta lấy được vàng bạc của cải rất nhiều. Vua Đại-Hành lại sai Ngô-TửYên đem 3 vạn quân mở một con đường đi bộ từ cửa bể Nam-giới cho đến
châu Đại-lái (đất Chiêm, nay là phủ Quảng ninh thuộc tỉnh Quảng-bình). Lại
đào một con sông từ núi Đồng-cổ cho đến con sông Bà-hoà tức là con sông
ở xã Đồng-hoà, huyện Ngọc-sơn bây giờ. Ấy tức là khởi đầu cho bước
đường nam tiến của dân tộc ta, vì có hai đường thuỷ lục ấy thì quân ta vào
đánh Chiêm-Thành mới được tiện đường vận tải vậy.
Nói đến nước Chiêm-Thành tưởng cũng nên thuật về lịch-sử của nước
ấy. Nước Chiêm-Thành khi xưa là nước Hồ-Tôn, thuộc về bộ Việt-Thường.
Đến nhà Tần đặt làm huyện Lâm-Ấp. Nhà Hán lại đổi làm huyện TượngLâm thuộc về quận Nhật-Nam. Đến thời vua Thuận-Đế nhà Hán năm VĩnhHoà thứ 2 (137) người trong quận ấy tên là Khu-Liên đương làm chức
Công-Tào, bèn giết quan huyện lệnh mà giữ lấy đất tự xưng là Lâm-ấpvương. Truyền được vài đời rồi cháu ngoại là Phạm-Dật kế lập, Dật mất,
2
người tướng là Phạm Văn cướp ngôi rồi đánh lấn lấy đất nước láng giềng.
https://thuviensach.vn
Từ đó nước mới rộng lớn, Đông Tây rộng 700 dặm. Nam Bắc dài 3000 dặm,
phía nam gọi là châu Thi Bị, phía tây gọi là châu Thượng Nguyên, phía Bắc
gọi là châu Ô lỵ, thống trị cả thẩy 38 châu.
Đời vua Mục Đế nhà Tấn (347) Phạm văn đem quân đánh Nhật Nam
rồi chiếm lấy đất, nói với quan Thứ Sử Giao Châu là Chu Phồn xin từ núi
Hoành Sơn ở phía Bắc Nhật Nam làm địa giới của mình. Phồn không nghe,
đến khi Văn mất, con là Phật lên nối ngôi vẫn đóng ở Nhật Nam. Sau bị
quan thái thú Cửu-châu là Quán Toại đánh đuổi đi, bèn lại trở về Lâm Ấp.
Năm Nghĩa Hy thứ 9 (413) đời nhà Tấn vua Lâm Ấp là Phạm Hồ Đạt
vào cướp quận Cửu-châu bị quan thứ sử Giao-chân là Tuệ Đô đánh chém
được. Đến đời Nguyên Giả nhà Tống, vua Lâm Ấp là Phạm-dương-Mại sai
sứ sang cống nhà Tống và xin được lĩnh Giao Châu, nhà Tống không cho,
bèn lại cướp bóc như cũ. Nhà Tống sai Dân Hoà Chi và Tôn Xác đi đánh
phá được quân Lâm-Ấp. Dương Mại chỉ thoát được một mình chạy trốn.
Đến sau Phạm Chi nối ngôi, lại vào cướp Nhật Nam. Thời vua Dạng Đế nhà
Tuỳ, niên hiệu Đại Nghiệp năm Dần (605) sai tổng quản Hoan Châu là LưuPhương đến đánh, đem quân sang đò Đồ lễ đi qua về phía nam cột đồng trụ
8 ngày mới vào đến quốc Đô, Phương vào thành bắt được 18 bộ thần chủ
bằng vàng bởi vì truyền quốc đến đó được 18 đời vậy. Thế là Lâm Ấp bị
diệt, từ đó đất thuộc về nhà Tuỳ. Nhà Tuỳ chia đặt ra làm 3 châu là : Đãngchâu (Quảng-Bình, Quảng-Trị, Thừa-thiên), Nông-châu (Quảng-nam,
Quảng-ngãi) Xung-châu (Bình-định, Phú-yên). Kế lại đổi Đãng-Châu làm
quận Tị-Cảnh thống 4 huyện Tị Cảnh, Chu Ngô, Gia Lãnh, Tây Quyền ;
Nông Châu làm quận Hải Âm thống 4 huyện Tân Dung, Châu Long, Đa
Nông, An-Tạc ; Xung Châu làm quận Lâm Ấp thống 4 huyện Tương Phố,
Kim Sơn, Giao Dang, Nam Cục. Cuối đời nhà Tuỳ Phạm Chí lại họp quân
chiếm giữ đất cũ. Đầu đời Đường, nhà Đường lại dụ hàng được Chí, mới đổi
Lâm Ấp làm Lâm Châu, Tị Cảnh làm Lãng Châu, Hải Âm là Sơn Châu.
Năm Trình Quán thứ 2 (628) cháu Phạm Chí là Phạm Đầu Lê, khôi phục
được nước, sai sứ dâng hạt Hoả Chu chim yểng ngũ sắc và sừng thông thiên
tê sang nhà Đường. Đầu Lê mất, con là Long nối ngôi, Long lại bị tên Ma-
https://thuviensach.vn
Aman, Đa-già-Độc giết mất. Người trong nước bèn lập người con nhà cô
Đầu Lê là Chư cát Địa lên làm vua đổi quốc hiệu là Hoàn Vương. Trong
năm Nguyên Hoà đời Đường Hiến-Tôn, nước Hoàn Vương lại vào cướp
châu Hoan, châu Ái (Thanh Nghệ Tĩnh) bị hai quan đô hộ A nam đánh thua,
bèn bỏ Lâm Ấp mà dời nước vào Chiêm, xưng nước là Chiêm Thành (vì chỗ
đó có ngọn núi Chiêm bất La) đến khi nước ta Độc Lập về thời nhà Đinh,
Chiêm Thành định vào cướp kinh thành Hoa Lư (Ninh Bình), xong Hải quân
khi vượt qua cửa bể Đại Ác thì bị bại mà chạy về. Đến đời nhà Lê, Chiêm lại
bắt giam xứ giả nước ta, vì vậy quân ta lại vào đánh chém được tướng
Chiêm và phá tan thành trở về. Đến đời nhà Lý vua Thái Tổ năm Thuận
Thiên thứ 2 (1001) quân ta lại vào đánh Chiêm Thành ở trại Bố Chính
(Quảng Bình) đuổi giặc đến tận núi Long Tỵ (núi này ở tận phía tây huyện
Bình Chính năm dậm).
Đời vua Thái Tôn nhân nước Chiêm thành đã cách 16 năm không chịu
vào dưng đồ cống hiến, vua Thái-tôn bèn định ra oai cho họ biết sợ, mới
đóng ra mấy trăm chiếc tàu chiến theo các hình rồng phượng cá rắn hùm beo
anh võ, luyện tập quân thuỷ quân bộ cho được tinh nhuệ. Niên hiệu Thiên
cảm thánh võ năm đầu (1044) quân ta bèn đại cử vào đánh Chiêm, do vua
Thái-tôn thân đi làm tướng, theo đường thuỷ tiến vào cửa bể Ô-long (nay là
cửa Tư-hiền, ở phía đông bắc huyện Phú-lộc 1 dậm thuộc về tỉnh Thừathiên) đánh nhau với Chiêm-thành một trận, quân họ phải thua, chém được
vua họ là Xạ-Đẩu và giết chết quân họ hơn 3 vạn người, bắt sống được 5
nghìn người, 30 con voi. Rồi tiến vào thành Phật-thệ (ở xã Nguyệt-biều tỉnh
3
Thừa-thiên bây giờ) bắt vợ con vua họ đem về . Còn những người của nước
ấy bắt được thì đem phân sáp vào trấn Vĩnh-khang, (tức phủ Tương dương
Nghệ-an) trấn Đăng-châu tức phủ Quy hoá) mà lập ra làm phường ấp. Đời
vua Thánh tôn niên hiệu Thiên-huống-bảo-tượng năm thứ 2 (1069), quân
Chiêm vào cướp, vua giao cho nguyên-phi quyền coi việc nước, tự làm
tướng đi thân chinh, bắt được vua Chiêm là Chế-Củ và 5 vạn người Chiêm
đem về. Chế-Củ xin dâng đất 3 châu là châu Địa-lái (nay là đất phủ Quảngninh tỉnh Quảng-bình), châu Bố-chinh (nay là đất phủ Quảng-Trạch tỉnh
Quảng-bình), châu Ma-linh (nay là đất phủ Triệu-phong tỉnh Quảng-trị) để
https://thuviensach.vn
chuộc tội mới được tha về. Đời vua Nhân-Tôn năm Thái-ninh thứ 4 (1075)
vua sai ông Lý-thường-Kiệt vào kinh lý 3 châu ấy, vẽ thành địa đồ, đổi châu
Địa-lái làm châu Lâm-bình, châu Bố-chinh, châu Ma-linh làm châu Minh
linh, rồi chiêu dụ cho dân đường ngoài vào ở. Chế-Củ mất, Chế-ma-Na nối
ngôi, lại cướp lấy 3 châu ấy. Năm Long-phù thứ 4 (1104), quân ta lại vào
đánh, do ông Lý-thường-Kiệt làm tướng, đánh phá được Chiêm thành, Chếma-na lại phải nộp giả đất 3 châu. Thế là đất Quảng-bình và một phần đất
Quảng-trị từ đó thuộc hẳn về ta vậy.
Thời vua Lý-Thần-Tôn, Chiêm-thành cùng Chân-lạp ra cướp Nghệ-an,
bị quan Thái thú là Dưỡng anh-Nhĩ đánh thua phải chạy. Sau họ lại thường
đem thuỷ sư ra cướp bóc các miền ven bể.
Sang đời nhà Trần, vua Thái-tôn đi thân chinh, bắt được vua Chiêm là
Lâu-bố-gia-la và những nhân dân đem về. Năm Hưng Long thứ 10 đời vua
Trần-Anh-Tôn (1302), vua Chiêm-thành là Chế-Mân sai sứ ra cầu hôn và
xin nộp hai châu Ô, Lỵ làm đồ cưới. Vua Anh-Tôn đem bà Huyền-Trân công
chúa gả cho rồi đổi châu Ô làm Thuận châu (đất phía Nam tỉnh Quảng-trị)
châu Lỵ làm Hoá-châu (Thừa-thiên và phía bắc Quảng-nam). Thế là bước
đường nam tiến của dân tộc ta đã tiến đến nửa tỉnh Quảng-nam rồi vậy.
Sau đó Chiêm-thành thường hay đem quân ra cướp để báo thù. Cuối
đời nhà Trần, Chiêm-thành 3 lần ra cướp phá kinh thành Thăng-long và mấy
lần cướp phá Thanh Nghệ, nhân dân cũng chết hại rất nhiều, vua Trần-Duệtôn đi thân chinh (1376) dẫn quân đến cửa bể Thi nại (ở phía đông huyện
Tuy-phúc tỉnh Bình-định bây giờ), vua Chiêm là Chế-bồng-nga trá hàng rồi
phục quân mà đánh chặn ngang, vua Duệ-tôn phải tử trận, quân sĩ chết mất
nhiều lắm. Đời vua Thuận-tôn, Thượng tướng quân Trần-Khát-Trân đón
đánh ở sông Hải-trào, Chế-bồng-nga tin phải đạn mà chết ; bộ tướng là LaKhải dẫn quân về giữ lấy nước tự lập làm vua, bấy giờ cái nạn giặc Chiêmthành mới tạm yên.
Đời nhà Hồ niên hiệu Thánh nguyên năm đầu (1400), Hồ-Quý-Ly sai
Hành-khiển Đỗ-Hải làm Thuỷ quân đô tướng, tướng Tả thánh dực quân
Trần-Vấn làm Đồng đô tướng, tướng Long-tiệp-quân Trần-Tùng làm Bộ
https://thuviensach.vn
quân đô tướng, tướng Hữu thánh dực quân Đỗ nguyên Thác làm Đồng đô
tướng, đem 15 vạn quân đi đánh Chiêm-thành. Bộ quân Đô tướng TrầnTùng vì nghe nhời Đinh-đại-Trung, dẫn quân đi tận mạn sơn cước, cách xa
với thuỷ quân quá, xẩy gập khi mưa lũ nước lụt, tướng sĩ đành đóng lại ở
giữa đường, tuyệt lương trong 3 ngày giời, phải nướng áo giáp bằng da ra
mà ăn. Khi hồi quân, Trần-Tùng xuýt phải tội chết, nhưng vì có công lao
trước, được miễn tội chết mà phải đầy làm quân lính.
Năm Thiệu-thành thứ 2 (1402) mùa xuân tháng hai, vua Hồ-HánThương sai sửa định quân ngũ. Tháng ba sai sửa một con đường từ thành
Tây-đô (ở xã An-tôn huyện Vĩnh-lộc tỉnh Thanh-hoá bây giờ) đến Hoá-châu
(Thừa-thiên), dọc đường đặt ra phố sá và nhà trạm gọi là đường thiên lý.
Mùa hạ tháng sáu Hán-Thương cất đại quân vào đánh Chiêm-thành, lấy ĐỗMãn làm Đô tướng, Nguyễn-Vi làm Chiêu dụ sứ, Nguyễn-bằng-Cử làm
Đồng Chiêu dụ sứ. Quân ta đến bờ cõi Chiêm-thành ; Đinh-đại-Trung cưỡi
ngựa đi tiên phong, gập tướng giặc là Chế-cha-nan, hai người giao chiến
cùng chết cả. Vua Chiêm là Ba-đích-lại (con La-Khải) sợ hãi, sai Cậu là Bốđiền đem dâng 2 con voi, một con đen một con trắng cùng mọi đồ phương
vật, lại dâng đất Chiêm-động để xin ta lui quân. Bố-điền đến, Hán-Thương
bắt hiếp phải chữa lại tờ biểu, nói dâng cả đất Chiêm-động và đất Cổ-luỹ ;
rồi chia đất Chiêm-động ra làm châu Thăng châu Hoa (đất phía Nam tỉnh
Quảng-nam), chia đất Cổ-luỹ ra làm châu Tư châu Nghĩa (Quảng Nghĩa) đặt
quan Thăng-hoa an-phủ-sứ để thống trị các châu ấy. Về mạn thượng du thì
đặt ra làm trấn Tân-ninh. Chiêm-thành đem những nhân dân ở các đất ấy về
nước, còn thì ta thu dùng làm quân. Hán-Thương bèn đổi quan An-phủ sứ lộ
4
Thuận-hoá là Nguyễn-cảnh-Chân vào làm Thăng-hoa An-phủ-sứ, rồi thiên
dân mạn bắc vào ở mấy châu ấy, cho cả vợ con được đi theo ; lại cho dân
nộp trâu chuộc tội để lấy trâu mà cấp cho những dân thiên cư ấy. Từ đó dân
ta thiên vào ở mặt nam càng ngày càng nhiều.
Hiệu Khai đại năm đầu (1403), quân ta lại vào đánh Chiêm-thành, vua
Hồ-Hán-Thương dự chia đất Chiêm ra làm các châu huyện, sai Phạmnguyên-Khôi thống xuất hai mươi vạn quân thuỷ bộ tiến vào. Quân pháp rất
https://thuviensach.vn
nghiêm, người nào lâm trận mà nhút nhát sẽ bị tội chém, vợ con điền sản sẽ
phải thu làm của quan. Đại quân vào đến Chiêm-thành, vây thành Đồ-bàn
(Bình-định) nhưng vì quân đi đã chín tháng giời, lương hết lại phải kéo về.
Không được bao lâu thì nhà Hồ bại ; quân Minh vào chiếm nước ta, ta
còn lo chống chọi với giặc Minh chưa xong, vua Chiêm-thành là Ba-Đíchlại nhân dịp đó chiếm lấy 4 châu Thăng, Hoa, Tư, Nghĩa mà lại hay vào biên
cương cướp phá. Sau khi nhà Lê phục quốc, niên hiệu Thái-hoá thứ 2
(1444), vua Chiêm là Bí-Cai lại vào cướp phá đất Hoá-châu ; vua Nhân-tôn
mới sai ông Lê-Phụ, ông Lê-Khả vào đánh thành Đồ-Bàn, bắt Bí-Cai đem
về. Người trong nước mới lập người cháu vua cũ Bố-Đề là Ma-a-quy-lai lên
làm vua. Em Quy-lai là Quy-Do lại giam anh mà tự lập. Sau Bàn-la-tràduyệt giết Quy-Do mà cướp lấy rồi truyền ngôi cho con là Bàn-la-trà-toàn.
Năm Hồng-Đức thứ 1 (1470) mùa thu tháng 8 vua Chiêm là Bàn-la-trà-toàn
thân xuất thuỷ bộ tượng mã vào cướp Hoá-châu. Trấn tướng Hoá-châu là
Phạm-văn-Hiển thế không địch nổi mới dồn dân vào cả trong thành rồi đưa
thư cáo cấp về triều. Vua Thánh-Tôn liền xuống dụ trưng binh mộ tướng.
Tháng 11, định ra 52 điều quân luật. Ngày mồng 6, vua xuống một tờ chiếu
nói việc thân chinh Chiêm-thành, sai thái-sư Lân-quận-công Đinh-Liệt,
Thái-bảo Kỳ-quận-công Lê-Kiện lĩnh quân ba phủ đông nam bắc đi trước,
ban bố 24 điều về việc đi đánh Chiêm-thành ra các dinh và các vệ Cẩm-y,
Kim-ngô, Thân-vũ Điện-tiền. Ngày mồng 7, vua vào làm lễ cáo ở nhà Tháimiếu. Ngày 16, vua thân xuất đại quân tiến đi, sai bọn tả đô đốc Lê-hy-Cát,
Hữu đô-đốc Lê-cảnh-Huy ở lại kinh thành lưu thủ. Ngày hôm ấy ngự giá
khởi hành, có mưa phùn và có gió bắc, vua có làm mấy câu thơ rằng :
« Trăm muôn tướng sĩ ruổi lên đường, lấm tấm mưa nhuần, gió bắc
phương », tức là bài thơ kỷ thực đó. Sai Nguyễn-như-Đổ đến tế ở miếu vua
Đinh-Tiên-Hoàng, để cầu quân đi được thắng trận. Vua lấy bức địa đồ
Chiêm-thành, đổi đặt lại những tên sông núi. Ngày mồng 3 tháng 12, đại giá
đến Thiết-sơn. Ngày 18, thủy quân vào đến Chiêm-thành.Năm Hồng-Đức
thứ 2 (1471), ngày mồng 2 tháng Giêng, vua nghĩ rằng đại tướng quân đem
quân bước vào cõi giặc thì cần phải có quân sĩ tinh luyện, bèn truyền cho
quân Thuận-hoá đều phải ra bể để thao diễn về đường thuỷ chiến. Vua lại lo
https://thuviensach.vn
rằng núi sông nước Chiêm nhiều chỗ hóc hiểm chưa biết, bèn sai người thổ
tù Thuận-hoá là Nguyễn-Vũ vẽ một bức tường đồ dâng trình. Ngày mồng 6
viên Chỉ huy là Cương-Viễn bắt đem đến nộp một tên coi giữ ở cửa quan
Câu đê Chiêm-thành là Bồng nga. Viên tù trưởng Sa bôi là Cầm tích, tù
trưởng Thuận bình là Đạo-Vũ hôm ấy cũng vào chầu dâng đồ phương vật.
Sứ thần Ai-lao là bọn Lang-lệ cũng đem đồ phương vật lại dâng. Vua thân
soạn bài sách Bình Chiêm ban ra các dinh, trong bài sách nói có 10 lẽ có thể
thắng và có 3 việc đáng nên sợ. Vua sợ tướng sĩ chưa hiểu, sai quan Chỉ huy
Nguyễn-thế-Mỹ dịch ra quốc ngữ cho mọi người đều biết. Lại sai quan
Giám-sát ngự-sử Lê-bá-Di đem thóc kho Thuận hoá mà chuyển vận đến nơi
hành tại. Ngày mồng 5 tháng 2 vua Chiêm là Trà-Toàn sai em là Thi-Nại và
đại thần 6 người đem 8 nghìn binh tượng lẻn đến gần dinh vua để mưu đánh
úp. Ngày mồng 7 vua sai Tả-du-kích tướng-quân Lê hy Cát, Hoàng nhân
Thiêm, và tiên phong tướng quân Lê-Thế, Trịnh-văn-Sái đem hơn 5 trăm
chiếc tầu 3 vạn tinh binh, đang đêm lẻn ra cửa bể Cựu-áp (nay là Tiểu áp
thuộc huyện Hà-đông Quảng-nam), kịp vượt bể lẻn vào cửa Sa kỳ (cửa này
nay ở phía đông nam huyện Bình-sơn tỉnh Quảng-nghĩa) lập luỹ đắp thành
để chặn đường về của giặc. Quân Chiêm vẫn không biết gì cả. Ngày mồng 7,
vua thân xuất thuỷ quân hơn nghìn chiếc tàu, 70 (?) vạn tinh binh kéo ra hai
cửa bể Tân áp Cựu áp (Tân áp nay là Đại áp cũng ở huyện Hà đông, Quảngnam) cờ bay rợp bể, trống đánh vang giời, quân reo rầm rĩ mà tiến vào cửa
bể Thái cần (Quảng-nghĩa) mật sai tướng bộ quân là Nguyễn-Đức-Trung
đem bộ binh lẻn đến mạn sơn cước. Quân Chiêm trông thấy quân vua ầm ầm
kéo đến đều sợ hãi, chạy cả về thành Đồ-bàn. Về đến núi Mạc-nô chợt thấy
Hy-cát đã chẹn mất đường về, hoảng hốt phải chạy vào đường núi, khí giới
lương thảo bỏ lại đầy đồng, người ngựa ngã chết khắp núi. Bọn Lê-Niệm
Ngô-Hồng phái binh đuổi đánh, chém chết được một viên đại tướng. Trà
Toàn nghe tin em thua chạy, sợ hãi, vội sai người thân tín dâng biểu xin
hàng. Vua không nghe. Ngày 27, vua thân xuất đại quân phá thành Thi nại,
chém được hơn trăm thủ cấp. Ngày 28 vua tiến binh vây thành Đồ bàn.
Ngày 29, đến sát chân thành vây chặt mấy vòng. Ngày mồng 1 tháng 3, vua
truyền lệnh cho các đạo quân đồng thời đánh thành và làm thang bắc trèo lên
https://thuviensach.vn
mặt thành. Một lúc, vua trông thấy quân tiền kỵ đã trèo được lên tường
thành, bèn phát 3 tiếng súng hiệu, truyền quân chém phá cửa đông tiến vào,
lại sai Đồng thái giám Nguyễn-Đam truyền cho các quân sau khi vào thành
phàm các kho đạn tài vật không được cướp phá. Chiêm chúa Trà-toàn bắt
được không được giết chết. Quân ta hạ được thành, bắt được hơn 3 vạn
người, chém được hơn bốn vạn cấp. Vua sai quan chỉ huy Ngô-Nhạn dẫn
hàng tướng của Chiêm là Bồ-sản-ba-ma đến, sai dàn bầy những của báu đồ
vật gì của Chiêm mà nước ta không có để vua coi. Lệnh-uý Đỗ-Hoàn trỏ
khắp từng thứ. Có một cái hộp bạc, hình như cái gươm. Vua hỏi đó là vật
gì ? Hoàn tâu vật ấy từ xưa đến nay phàm vua nước Chiêm tất đều phải có,
rồi đời nọ truyền cho đời kia. Quân Thuận-hoá bắt sống được Trà-Toàn dẫn
đến trước mặt vua, Trà-Toàn phục lạy xuống đất. Vua hỏi rằng : « Nhà ngươi
có phải là vua Chiêm không ? » Trà-Toàn thưa phải. Vua hỏi : « Nhà ngươi
có mấy con ? » Trà-Toàn thưa có hơn 10 con. Đỗ-Hoàn nói : « Hắn đã biết
phép thì xin bệ hạ tha chết cho hắn ». Vua bảo Trà Toàn rằng : « Trong vòng
gươm súng, ta chỉ e nhà ngươi ngộ hại, may không hề gì như thế, ta thật yên
lòng ». Bèn sai đem Trà Toàn cho ra ở tạm một cái nhà nhỏ. Quân sĩ điệu đi
mau quá. Vua bảo : « Thong thả chứ mà ! Hắn là vua một nước, không nên
làm quẫn bách hắn quá như thế ».
Trà Toàn đã bị bắt, có người tướng của Trà Toàn là Bô tri trì chạy đến
Phan lung (thuộc Bình thuận) giữ được chừng một phần năm đất Chiêm cũ
mà xưng là Chiêm thành vương, sai sứ xưng thần phụng cống. Vua bèn đi
kinh lý đến núi Thạch bi (thuộc phủ Tuy hoà, tỉnh Phú yên) dựng bia định
địa giới ở núi ấy (bia ấy nay hãy còn, nhưng mòn quá không trông rõ chữ).
Còn từ núi Cầu mông (thuộc huyện Đồng xuân, tỉnh Phú yên) trở về phía
nam thì ưng phong cho Bô tri trì làm vua Chiêm thành, giữ đất để cung chức
cống ; lại phong thêm hai vua Hoa anh Nam bàn và chia ra làm 3 nước để
dàng buộc lẫn nhau.
Trận bình-Chiêm này, quân thanh của ta lừng lẫy xa gần, khi đại quân
khải hoàn, những thổ tù ở các động mán đều đua nhau đem đồ trâu bảo tiến
https://thuviensach.vn
cống. Trà Toàn bị giải về đến sông Thiên phái thì lo sợ mà chết, vua sai
chém đầu bêu ở đầu thuyền.
Thế là bước đường nam tiến của dân tộc ta sau trận này thì đã tiến đến
biên giới phía bắc tỉnh Phú yên rồi vậy.
Tháng 6 năm ấy (1471), vua Lê Thánh Tôn lấy đất Chiêm-thành mà đặt
làm Quảng-nam thừa-tuyên và vệ Thăng hoa, và đặt ra Quảng nam tam ty.
Năm Hồng đức thứ 3 (1472) em Trà Toàn là Trà Toại trốn vào trong
núi, rồi sai sứ cáo nạn với nhà Minh và xin phong. Vua Thánh tôn sai Lê
Niệm đem binh đuổi theo bắt được Trà Toại, hơn 30 năm rồi chết ở đó.
Năm thứ 21 (1490) định bản đồ trong nước thì thừa tuyên Quảng nam
lĩnh 3 phủ 9 huyện : 1. Phủ Thăng hoa thống 3 huyện Lê giang, Hy giang,
Hà đông. 2. Phủ Tư nghĩa, thống 3 huyện Nghĩa giang, Bình dương, Mộ hoa
(nay Quảng nghĩa) 3. Phủ Hoài nhân, thống 3 huyện Bồng sơn Phù ly, Tuy
viễn, (nay Bình định). Thời vua Lê Hiến tôn, con Trà Toại Trà Phúc lấy trộm
hài cốt cha trốn về nước rồi sai người sang nhà Minh cầu cứu đóng thuyền
bè chứa lương để đồ phản kháng. Đòi vua Uy mục bắt được mấy người
Chiêm ở ngoài bể, tra biết mưu ấy, bèn sai Lý tử Vân vào kinh lý Quảng
nam để phòng bị, việc ấy mới yên.
Đến đời họ Nguyễn làm chúa phía nam, Chiêm thành vẫn thần phục,
sau lại thường hay quấy nhiễu ngoài ven. Năm Tân-hợi (1611), Gia dụ
vương sai chủ sự là Văn Phong lĩnh binh đi đánh, chiếm lấy đất đặt làm phủ
Phú-an, lĩnh 2 huyện Đồng xuân Tuy hoà (nay tức là tỉnh Phú-an), rồi sai
Văn Phong lưu thủ đất ấy. Đến đời Sĩ vương, Văn Phong làm phản. Sĩ
vương sai phó tướng là Nguyễn-phúc-Vĩnh giẹp tan được rồi lập đất ấy làm
doanh Trấn biên.
Thời Hiền vương, vua Chiêm-thành là Bà tấm xâm vào Phú-an, vương
sai cai cơ là Hùng Lộc làm thống binh, sá sai là Minh Võ làm tham mưu,
lĩnh 3000 quân đi đánh Hùng lộc tiến binh qua núi Thạch bi, kéo thẳng đến
thành, thừa lúc ban đêm phóng hoả đánh phá. Bà tấm phải chạy đi trốn.
Quân ta chiếm đất đến sông Phan giang (1656), rồi lấy ở phía đông sông ấy
https://thuviensach.vn
đặt ra hai phủ Thái khang (nay Ninh hoà), Diên Ninh (nay Diên khánh, phủ
Thái khang thống 2 huyện Quảng phúc, Tân định, phủ Diên ninh thống 3
huyện. Phúc điền, Quảng xương, Hoa châu, lập ra doanh Thái khang ở Nha
trang (nay là tỉnh thành Khánh hoà) để thống trị. Còn phía tây sông ấy thì
giả lại cho Chiêm thành, bắt phải hàng năm vào cống hiến.
Thời Minh vương năm 1691, vua Chiêm là Bà tranh lại vào quấy nhiễu
phủ Diên ninh. Vương sai Nguyễn hữu-kính làm Thống binh đi đánh, bắt
được Bà tranh và bọn bề tôi là Kế bà tử và bọn thân thuộc là Nương-my Bàân đem về giam ở núi Ngọc chản, đổi nước Chiêm thành đặt là trấn Thuận
thành. Vương lại sai Nguyễn-tri-Thắng giữ Phố-hài, Nguyễn-tán-Lễ giữ
Phan-lý, Chu-kiêm-Thắng giữ Phan-lang để phòng những dư đảng Thuận
thành. Sau lại đổi làm phủ Bình thuận cho đến Kế-bà-tử làm Khánh lý và
cho ba con của Bà-ân làm Đề-Đốc, Đề-lĩnh, Cai phủ, bắt phải vận mặc theo
kiểu ta, rồi cho về để cai trị lấy dân.
Tháng chạp năm ấy, người Tàu tên là A-ban cùng với người Chiêm
thành là Ô-nha-trát nổi loạn, Minh-vương sai Nguyễn-hữu-Kính cất quân
vào giẹp tan được đám ấy. Kế-bà-tử kêu rằng : « Từ khi thay đổi chính-trị
đến nay, mùa màng mất luôn, nhân dân thì sinh ra tật dịch ». Vương thương
tình, bèn lại phong cho Kế-bà-tử làm Thuận-thành-trấn phiên-vương để phủ
trị lấy binh dân mà hàng năm phải vào nộp cống.
Những người ngựa và kiếm ấn trước bắt được cũng giả cho cả. Lại cấp
30 tên lính kinh để bảo hộ giúp cho. Năm Chính hoà thứ 18 (1697) mới lại
lấy đất của Thuận-thành vương mà đặt làm phủ Bình-thuận, lấy đất Phan-lý
Phan-lang đặt làm 2 huyện An-phúc Hoà-đa. Từ đó Chiêm thành mất hẳn về
bản đồ nước ta vậy. Đó là bước nam tiến của dân ta đã đến hết đất Trung-kỳ
giáp đất Nam-kỳ.
Nghĩ như Chiêm-thành cũng là một nước khai hoá rất sớm đã từng sản
xuất ra những bậc người tài hùng lược lớn làm cho nước ta đôi phen ăn
không ngon ngủ không yên ; thế mà hay đâu lần lần về sau đến nỗi phải táng
quốc diệt chủng ! Xét ra cớ đó chỉ vì dân họ không biết tự cường tự phấn, vì
họ chịu ở dưới cái chính thể quân chủ chuyên chế, việc nước hay dở đều
https://thuviensach.vn
mặc kệ ở lũ vua quan. Thế mà vua quan về sau chỉ thấy sản xuất những mặt
đớn hèn, lúc bình thường không chịu tu tỉnh cho nội lực được đầy đủ rồi rào,
đối với trong thì áp chế bậy, đối với ngoài thì hóc hách sằng, quân ngoài vừa
kéo đến nơi đã luỹ vỡ thành tan, cắt đất bồi khoản, ngày nay mất một khu,
sang năm mất một hạt, trách nào mà dần dần chẳng nước mất giống cũng
không còn. Ta chép đến đây luống những vì người Chiêm mà phàn nàn ái
ngại. Trong cuộc sinh tồn cạnh tranh, khoẻ sống yếu chết, coi đó mà cũng
đáng ghê thay ! cũng đáng sợ thay !
Xét tục Chiêm-thành, người nào cũng lấy chiên quấn vào bụng, bỏ giọt
dài xuống tới chân. Vạt tay áo đều hẹp. Đầu búi tóc mé sau để xoã ra. Vua
mặc áo Cát bối, đội mũ bông vàng, rủ tua thất bảo. Đùi vế đều để hở, chân đi
giày nhưng không có tấ...
 





