Hồ Chí Minh một con người, một dân tộc, một thời đại, một sự nghiệp
biet-nguoi

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Lê Thị Minh Hiền
Ngày gửi: 12h:33' 05-03-2024
Dung lượng: 1.4 MB
Số lượt tải: 7
Nguồn:
Người gửi: Lê Thị Minh Hiền
Ngày gửi: 12h:33' 05-03-2024
Dung lượng: 1.4 MB
Số lượt tải: 7
Số lượt thích:
0 người
Thông tin ebook
Tên sách : Biết Người
Nguyên tác : La Connaissanee Des Hommes
Tác giả : Philippe Girardet
Dịch giả : Phạm Cao Tùng
Thể loại : Tâm lý học
Năm xuất bản : 1956
---------------------------------Đánh máy : ldlvinhquang
Chuyển sang ebook (TVE) : santseiya
Ngày hoàn thành : 26/10/2008
Nơi hoàn thành : Hà Nội
Ebook miễn phí tại : www.Sachvui.Com
Mục Lục
LỜI NÓI ĐẦU CỦA DỊCH GIẢ
PHẦN MỘT: CÁ TÍNH CỦA CON NGƯỜI
CHƯƠNG I - NHỮNG LỢI ÍCH CỦA TÂM LÝ
HỌC
CHƯƠNG II - NHỮNG PHƯƠNG PHÁP CỦA
TÂM LÝ HỌC
CHƯƠNG III - NHỮNG CHỨNG BỆNH TINH
THẦN DO THỂ TẠNG GÂY RA
CHƯƠNG IV
CHƯƠNG V - CÁ TÍNH TẬP THÀNH
CHƯƠNG VI - TÂM TRÍ
CHƯƠNG VII - TÂM TÍNH
CHƯƠNG VIII - CÁI PHƯƠNG TRÌNH CỦA
CÁ TÍNH
PHẦN HAI: TÂM LÝ ĐỘNG
CHƯƠNG I - GUỒNG MÁY CỦA TÂM NÃO
CHƯƠNG II
CHƯƠNG III
CHƯƠNG IV - Ý CHÍ
PHẦN BA: NHỮNG ÁP DỤNG CỦA TÂM LÝ
HỌC
CHƯƠNG I - BẠN BÈ VÀ GIA ĐÌNH
CHƯƠNG II - HÔN NHÂN VÀ HỢP ĐOÀN
CHƯƠNG III - ÁI TÌNH VÀ PHỤ NỮ
CHƯƠNG IV - TÂM LÝ HỌC VÀ VĂN
CHƯƠNG
CHƯƠNG V - TÂM LÝ HỌC VÀ NGHỆ
THUẬT BÁN HÀNG
CHƯƠNG VI - VẤN ĐỀ TUYỂN TRẠCH
CHƯƠNG VII - BÀN VỀ CÁCH CHỌN
NHỮNG NGƯỜI GIÚP VIỆC
CHƯƠNG VIII - BÀN VỀ LỐI KHẢO XÉT
NGƯỜI CÁCH TRỰC TIẾP
CHƯƠNG IX - TÂM LÝ HỌC ÁP DỤNG VÀO
VIỆC CẢI TẠO BẢN THÂN
CHƯƠNG X - MÊ TÍN, TẬP TỤC VÀ TÍN
NGƯỠNG
CHƯƠNG XI - NHỮNG THỨ THUỐC ĐỘC
GIẾT NGƯỜI
CHƯƠNG XII - CẦN LAO, TỰ DO VÀ HẠNH
PHÚC
LỜI NÓI ĐẦU CỦA DỊCH GIẢ
Tâm lý học là một khoa học người ta thường nhắc nhở đến nhiều nhất, song
cũng là một môn khoa học mà ít người hiểu nó nhất, lại càng ít người biết
áp dụng một cách hữu ích trong đời sống thực tiễn.
Trong rạp hát, sau khi anh kép cao hứng xổ một tràng lý luận dài dòng và
kết thúc bằng một câu đại để: “Tiền! Tiền! Than ôi đời này chỉ có tiền, chỉ
vì tiền, tiền là tất cả. Tiền! Tiền! Vì mi mà người ta đã phạm bao nhiêu tội
ác”. Một tràng pháo tay phát lên từ những hàng ghế cuối cùng, ông khán giả
ngồi kề tôi cũng gật đầu nói với người bạn: “Đúng là tâm lý hết sức!”.
Cô Hai bán hàng đọc xong một quyển “tâm lý xã hội ái tình, tiểu thuyết”
trong đó kể lại một câu chuyện cũ rích như quả địa cầu đại khái: Chàng yêu
nàng, dan díu với nàng, nhưng sau đó nghe lời cha mẹ bỏ rời nàng để cưới
một cô gái khác có bề thế hơn, bình phẩm với cô bạn đồng sự: “Thật đúng
là tâm lý người đời!”.
Đó, đại để phần đông người ta chỉ hiểu tâm lý học qua một vài điểm tâm lý
sơ đẳng như thế. Ngoài ra họ không biết rõ tâm lý học nghiên cứu những gì,
những phương pháp hoặc công dụng của tâm lý học ra sao cả.
Chúng ta đừng nghĩ rằng những người văn hóa khá cao, những người đã
từng theo học lớp triết học ban tú tài chẳng hạn có một ý niệm rõ rệt hơn về
tâm lý học. Vâng, trong những lớp triết học họ có học qua môn tâm lý học
thật, các giáo sư giảng giải cho họ biết những sinh hoạt của tình cảm, của trí
thức, có định nghĩa cho họ hiểu thế nào là ý thức, thế nào là vô thức. Họ
cũng phân loại các khuynh hướng, các cảm giác, các ảnh tượng. Họ cũng
biết phân biệt thuyết chủ nghiệm khác thuyết chủ lý ra sao. Nhưng sau mấy
năm đèn sách, mớ trí thức họ đã thâu thập về tâm lý học vẫn lẻ tẻ, rời rạc,
có thể thỏa mãn óc tò mò của trí thức nhiều hơn là giúp ích cho họ. Vì thế
không mấy người biết nhận định một cách rõ rệt, tổng quát về cái “khoa học
của đời sống” ấy và khi bước ra thực tế không mấy người biết áp dụng tâm
lý học một cách có ích lợi.
Về tâm lý học, ngoài các phần tâm lý học thuần túy mà người ta cũng gọi là
tâm lý học ở nhà trường, còn phần tâm lý học thực tiễn, cái phần tâm lý học
“có thể dùng vào một công việc gì” mà các nhà tâm lý học hiện giờ, nhất là
những nhà tâm lý học Anh–Mỹ vốn vẫn có óc thực tiễn, đặc biệt chú trọng
và đang hướng những tìm tòi, khảo cứu của họ vào đó.
Người ta có thể áp dụng tâm lý học vào các ngành đại để:
Về y học: Khoa phân tâm thần học, tâm lý học.
Về chức nghiệp: Hướng dẫn trong việc chọn nghề, tuyển trạch người làm,
tổ chức công việc làm.
Về giáo dục: Hướng dẫn việc học, tuyển trạch, tâm lý nhi đồng, khoa sư
phạm.
Về thương mại: Bán hàng, quảng cáo.
“Và ngay trong đời sống hàng ngày, người ta luôn luôn có dịp nhờ đến tâm
lý học để nhận định rõ rệt cá tính của người mình giao tiếp, để hiểu rõ dục
vọng, sở thích của họ, để biết họ muốn gì, suy nghĩ những gì và cảm tưởng
họ ra sao. Người bán hàng cần biết gợi sự ham thích của khách hàng để họ
mua hàng. Nhà y sĩ cần biết phán đoán về người bệnh. Viên sĩ quan cần
hiểu những binh sĩ dưới tay mình. Nhà văn cần hiểu tâm lý các nhân vật
mình tạo ra. Vợ chồng cần hiểu nhau. Cha mẹ cần hiểu con cái.
Đó âu cũng là một khuyết điểm lớn của nền giáo dục hiện tại, chỉ quan tâm
đến chữ “Trí” mà ít nghĩ đến chữ “Hành”, chỉ lo dạy cho bạn trẻ “biết” thật
nhiều điều mà không dạy cho chúng “biết hành động” hoặc ít ra vạch cho
chúng “biết đường lối để hành động”. Các giáo sư thường nhồi nhét vào óc
các sinh viên mớ hiểu biết hỗn tạp với những lý thuyết, những giả thuyết,
những tài liệu, những thí nghiệm mà các nhà tâm lý học xưa nay đã thâu
thập. Có mấy người đã biết vạch cho bạn trẻ rõ: Bằng cách nào người ta có
thể dùng tâm lý học để phát triển cá tính của mình, có thể dùng kỹ thuật tâm
lý học nào để làm cho mình thêm sức hăng hái hoạt động hoặc thêm sức
chịu đựng, dùng tâm lý học cách nào để quan sát, phân tách và nhận xét tâm
tính của những người mình gần gũi?
Vì thế, đa số các bạn trẻ (kể luôn những bạn trẻ có học) rất ngỡ ngàng khi
bước ra đời thực tế và họ thường tỏ ra bất lực khi phải hành động. Mớ kiến
thức của họ chỉ là những món đồ trang hoàng chứ không phải là những
dụng cụ có thể giúp họ xây dựng một đời sống tươi đẹp cho riêng cá nhân
họ chứ đừng nói đến việc thực hiện những công cuộc gì lớn lao có thể giúp
ích cho xứ sở, cho nhân loại.
Quyển “La Connaissanee Des Hommes” của Philippe Girardet mà chúng
tôi đã dịch và trình diện sau đây là một quyển sách thực tiễn. Tác giả vốn là
một nhà văn nhưng đã từng lăn lộn trong giới doanh nghiệp, gần gũi với
thực tế nên những sách ông soạn phần nhiều đều có tính cách thực tiễn. Dựa
vào một lý thuyết về cá tính con người của hai giáo sư F. Achille Delmas và
Marcel Boll, ông thử áp dụng thuyết ấy vào đời sống thực tiễn và theo lời
ông thú nhận: “Không lúc nào ông thấy nó sai”. Đặc biệt nhất là ông đã
khéo trình bày một vấn đề trừu tượng bằng một cách rất “sống”, ông đã
khéo giảng giải một khoa học khúc chiết một cách rất sáng sủa.
Riêng chúng tôi, cũng nhờ may mắn có dịp đọc qua quyển “La Personnalité
Humaine” của F. Achille và M. Boll mà thấy thích thú nghiên cứu về tâm
lý học và cũng đặng hiểu nó một cách rõ ràng hơn. Chúng tôi cũng đã thử
áp dụng tâm lý học một cách ích lợi trong nhiều ngành mà chúng tôi đã có
dịp trình bày với độc giả hai quyển “Nghề Bán Hàng” và “Tâm Lý Ái
Tình”. Cũng từ lâu rồi, chúng tôi có ý định giới thiệu lý thuyết của hai giáo
sư ấy với độc giả trong nước nhưng chưa biết phải trình bày thế nào cho dễ
hiểu vì nếu dịch thẳng quyển “La Personnalité Humaine” của F. Achille và
M. Boll ra Việt văn thì chắc không bổ ích bao nhiêu vì hai nhà tâm lý học
này trình bày thuyết của họ theo lối các nhà bác học nghĩa là đứng trên tầm
hiểu biết của họ mà giải thích, bất chấp trình độ hiểu biết của phần đông
độc giả, thì học chăng chỉ có ích cho một số hiếm người đã từng gần gũi với
nhiều loại sách tâm lý. Tình cờ chúng tôi có dịp đọc quyển “La
Connaissanee Des Hommes” của Philippe Girardet trong đó tác giả cũng có
ý định như chúng tôi là thử giải thích thuyết ấy cho đa số người đọc có thể
hiểu, lẽ dĩ nhiên là cho độc giả Pháp, và thử áp dụng thuyết ấy vào đời sống
thực tiễn.
Ông Philippe Girardet đã viết một quyển sách chúng tôi định viết. Không
phải mất thì giờ để làm lại công việc đã có người khác làm và làm rất hay,
chúng tôi thấy chỉ việc xin phép tác giả cho dịch sách ấy ra Việt văn là có
thể thực hiện ý định của mình. Tác giả đã vui lòng cho phép và hôm nay
quý độc giả có dịp đọc quyển “Biết Người”, tâm lý học áp dụng vào đời
sống thực tiễn, sớm hơn chúng tôi đã tiên liệu.
Sở dĩ chúng tôi dịch quyển “Biết Người” vì muốn giới thiệu với độc giả
một khoa học rất hữu ích: Tâm lý học, mà nhất là vì đó là một quyển sách
phổ thông kho học đã đặng viết bằng một lối văn hết sức giản dị, dễ hiểu.
Đó là một thí nghiệm chứng tỏ người ta có thể giảng giải những khoa học
khúc chiết bằng một lối văn thông thường cho mọi người có thể đọc và
hiểu. Tác giả có nói rõ ý định của mình ở chương đầu sau đây. Riêng về
phần tác giả, chúng tôi nhận thấy ông đã đạt mục đích một cách rực rỡ.
Những ai từng có dịp đọc qua quyển “La Personnalité Humaine” của F.
Achille và M. Boll và quyển“La Connaissanee Des Hommes” của Philippe
Girardet ắt cũng phải đồng ý với chúng tôi rằng chính ông sau này đã giúp
chúng ta hiểu rõ lý thuyết của Delmas và M. Boll còn hơn hai người cha đẻ
ra thuyết ấy.
Nhưng về phần dịch giả, chúng tôi có đạt được mục đích ấy chăng? Điều đó
cũng còn tùy sự rộng lượng của độc giả. Khoa tâm lý học đối với chúng ta
còn mới quá, sách về tâm lý chưa có bao nhiêu, chúng ta lại thiếu cả những
danh từ về tâm lý học. Vì thế trong sách này mỗi khi phải dùng đến một
danh từ hơi chuyên môn hoặc chưa được thống nhất chúng tôi có chua thêm
tiếng Pháp để độc giả có dịp đối chiếu và ở phần sau sách chúng tôi có làm
một tự vựng giải thích các danh từ ấy.
Tin rằng một khi đã hiểu qua những khó khăn ấy, quý độc giả chẳng những
sẽ không “quá nghiêm khắc” đối với chúng tôi mà còn sẵn lòng chỉ bảo cho
những khuyết điểm và chúng tôi xin có lời thành thật cảm ơn trước.
Dịch giả cẩn chí
Tháng 5/1956
PHẦN MỘT: CÁ TÍNH CỦA CON NGƯỜI
CHƯƠNG I - NHỮNG LỢI ÍCH CỦA TÂM LÝ
HỌC
Một điều hơi lạ, trong việc đào luyện con người, người ta không mấy quan
tâm đến môn tâm lý học. Trong chương trình học vấn, người ta không đếm
xỉa đến nó hoặc chỉ dạy phớt qua. Có lẽ người ta nghĩ rằng những lớp triết
học mà một số ít sinh viên ban trung học có dịp theo đuổi, là những hành lý
đầy đủ để họ xông pha trên trường đời. Ngoài ra người ta phó thác họ cho
đời chỉ dạy.
Theo ý kiến một vài nhà giáo dục, chúng ta nhồi nhét vào trí óc của trẻ em
quá nhiều tri thức. Chúng ta muốn nhào nặn khối óc của chúng trở thành
một bộ bách khoa toàn thư “sống”, nhưng chúng ta quên dạy chúng cái
khoa học cốt yếu, quên trao cho chúng cái chìa khóa có thể mở các cánh
cửa: tâm lý học.
Ngoại trừ bị giam hãm suốt đời trong một phòng thí nghiệm hoặc trong một
xưởng máy, chúng ta luôn luôn cần nhờ đến người khác để áp dụng những
điều hiểu biết của mình hoặc đối phó với sự thờ ơ, ghét vơ của họ.
Nên chúng ta dốt đặc về tâm lý học, nếu chúng ta không hiểu về những định
luật bất dịch chi phối những thị dục của con người, nếu chúng ta không
đặng dẫn dắt bởi những chân lý đã từng thí nghiệm, thì với hiểu biết của
chúng ta rất có thể đưa chúng ta tới thất bại. Chúng ta có thể nói không sợ
lầm rằng: sự hiểu biết của mọi người có đắc dụng chăng là tùy thuộc sự
thấu đáo về tâm lý của họ.
Kiến nghiệm và khoa học:
Đành rằng, kinh nghiệm của sự đời cũng có thể giúp chúng ta nhận xét
để hiểu biết người. Thường gần gũi với người đồng loại, chúng ta có thể
phán đoán về họ, nếu chúng ta có chút ít khả năng về việc đánh giá con
người.
Nhưng chúng ta đừng lầm lộn việc áp dụng thực tiễn một khoa học với
khảo cứu những nguyên tắc của nó. Cái kinh nghiệm chúng ta thâu rút khi
chung đụng với đời có thể hợp thành một phương pháp kinh nghiệm.
(Phương pháp kinh nghiệm là phương pháp chỉ được căn cứ vào những
kinh nghiệm, không chịu tìm hiểu nguyên do, khác với phương pháp thực
nghiệm căn cứ trên những thí nghiệm khoa học. Thí dụ Đông y dựa vào
phương pháp kinh nghiệm và Tây y sau khi trải qua giai đoạn kinh nghiệm,
đã tiến đến giai đoạn thực nghiệm). Dù không có ý khinh rẻ phương pháp
kinh nghiệm, chúng ta cũng phải nhận thấy nó có lắm bất tiện. Muốn dùng
đặng nó chúng ta phải trả một giá khá đắt: phải trải qua những lỗi lầm, đau
thương, phải mất bao nhiêu thời giờ, bao nhiêu cố gắng. Đó là chưa kể
muốn áp dụng đặng những kinh nghiệm ấy chúng ta phải có đôi chút khả
năng thiên nhiên; trái lại, phương pháp thực nghiệm căn cứ trên những nền
tảng khoa học có thể giúp ích cho một số đông người có những khả năng
tầm thường.
Ở ngoài đời, chúng ta đã từng thấy có người văn hóa rất kém (mà chúng tôi
đã đặt cho họ cái tên hơi bất công là “những người sơ đẳng”) đã chiếm đặng
những địa vị khả quan trong xã hội. Có nên vì đó mà kết luận rằng văn hóa
không cần thiết để thành công?
Có lắm tay ngang thiếu học chuyên môn những cũng cạy cục rất tài để có
thể ráp nỗi một bộ máy vô tuyến truyền thanh rắc rối. Tuy không biết qua
về lý thuyết nhưng nhờ có mó tay vào thực hành nên họ cũng có thể bàn về
“tần số”, về “cuộn xen”, về “máy phát sóng”… một cách khá rành rẽ. Có
phải vì thế mà chúng ta nên cho rằng muốn học về vô tuyến điện không cần
phải học qua phần lý thuyết? Chắc chắn là không ai sẽ nghĩ như thế, vì ai ai
cũng thấy rõ, một tay ngang thiếu cơ sở khoa học mà ráp nổi bộ máy truyền
thanh ấy, ắt đã mất bao nhiêu thì giờ, bao nhiêu dọ dẫm và bao nhiêu nhẫn
nại mới có thể đạt đến đích, đó là chưa kể hắn phải có nhiều tài quan sát.
Một kỹ sư điện học, trái lại chỉ cần vài giờ suy nghĩ là có thể ráp xong máy
ấy nhờ áp dụng những hiểu biết về lý thuyết mà ông ta đã thu thập được khi
học ở trường.
Biết người:
Bí quyết của thành công, trong đời sống cũng như doanh nghiệp gồm
hai chữ “Biết Người”. Ở đây chúng ta không nên hiểu hai chữ “thành công”
với cái nghĩa hẹp hòi là thâu đoạt được nhiều tiền của, nhiều danh vọng, mà
nên hiểu rộng là sự tiến bộ về tri thức cũng như về vật chất, là sự hoàn
thành một cách hợp lý cái nhiệm vụ mà đời sống đã vạch cho mình.
Một người bán hàng, một thương gia dù sẵn có nhiều khả năng thể chất hoạt
động tâm thần cũng chưa ắt đã dễ thành công nếu họ thiếu đức mẫn tiệp,
thiếu hiểu biết về tâm lý học để có thể gợi sự thèm thuồng của khách hàng.
Một kỹ sư khôi nguyên ở trường bách khoa xuất thân rất có thể thất bại
trong những công trình của mình, nếu họ không biết gì về cá tính của những
nhân viên làm việc dưới tay họ.
Một doanh nghiệp có thể suy sụp dù rằng được điều khiển bởi một viên
giám đốc có tài, nếu ông ta lầm lỗi trong việc tuyển chọn những nhân viên
cần thiết giúp ông ta làm tròn nhiệm vụ.
Một tay cuộc chê đi chào mời khách hàng bảo hiểm nhân mạng, dù rằng có
biết rõ sự ích lợi về mặt xã hội của việc bảo hiểm, cũng chưa ắt đã có thể
khuyến dụ khách hàng ký hợp đồng nếu hắn không biết cách trình bày
những lý lẽ một cách khéo léo để cho khách hàng gật đầu.
Một người có thể có tài viết văn, nhưng làm báo lại rất dở nếu họ không
hiểu tâm lý quần chúng. Một họa sĩ dù có sẵn thiên tư cũng cần thấu đáo cá
tính của người mẫu mới mong đạt được sắc diện của người ấy nổi. Một nghị
sĩ phải thấu hiểu cử tri của mình. Một trạng sư: những thân chủ của mình.
Một y sĩ: những bệnh nhân của mình. Một sĩ quan: những quân sĩ của mình.
Một vị thuyền trưởng: đoàn thủy thủ của mình. Chỉ có nhân viên thu thuế
là… không cần hiểu những tên dân đen.
Trong đời sống thực tiễn, những cuộc xào xáo trong gia đình, những xích
mích giữa bạn bè, những bất mãn do người giúp việc bất tín gây ra, những
thất vọng về đường tình duyên thường có nguyên do bởi sự dốt nát về tâm
lý học.
Như chúng ta đã thấy, bất luận trong ngành sinh hoạt nào, chúng ta cũng
cần biết rõ cá tính của những người mà chúng ta có liên lạc gần hay xa.
Nghiên cứu về tâm lý học chẳng những giúp ích chúng ta rất nhiều trong
phạm vi chức nghiệp, ngoài ra nó còn giúp chúng ta thâu đoạt nhiều kết quả
thiết thực trên đường giao thiệp.
Ngày nay, tâm lý học là một khoa học có thể truyền dạy cũng như bao nhiêu
khoa học khác. Với một bộ óc thông minh trung bình người ta cũng có thể
học và hiểu nó. Nó cũng không bắt buộc người học phải có số vốn về triết
học. Nó căn cứ trên những yếu chỉ và những nguyên tắc có lẽ còn giản dị
hơn môn hình học hoặc vật lý học. Người đã có một cơ sở tâm lý học sẽ dễ
mà rút tỉa những cái hay trong mớ kinh nghiệm mà đời sống sẽ đưa đến cho
họ sau này. Họ sẽ dễ thông cảm, mau hiểu người đồng loại hơn cũng như
viên kỹ sư điện học dễ mò ra những bí quyết của vô tuyến điện hơn một tay
ngang chỉ dựa vào mớ kinh nghiệm.
Lối văn “triết học”:
Nói cho đúng, việc đọc sách khảo cứu về tâm lý học thường dễ làm cho
người dù hiếu học đến đâu cũng đâm ra chán nản. Nản vì “lối văn triết học”
mà phần nhiều tác giả sách này quen dùng, lối văn mà A. Abalat đã chỉ
trích gắt gao trong mấy tác phẩm bàn về nghệ thuật viết văn. Kể ra “lối văn
triết học” này có thể so sánh với “lối văn sở cẩm” mà André Thérive đã
từng chế giễu. Và có khi nó còn tệ hơn, vì trong lối văn sau này, những
danh từ dùng sai nghĩa song người ta còn có thể đoán được chứ đọc “lối văn
triết học” thì chẳng khác gì đọc sấm ký, bởi tác giả thường khéo che đậy
một cái trống không to tướng dưới một lớp danh từ khúc mắc có vẻ khoa
học.
Đành rằng văn của Bergson (Nhà triết học Ly Lạp) cũng tối mò song ít ra
chúng ta còn thưởng thức đặng cách bố trí chặt chẽ những ức thuyết rất tân
kỳ của ông. Dù vậy, tôi cũng mạn phép trách ông điều này là ông đã không
biết làm cho một người chỉ có óc thông minh trung bình hiểu đặng tư tưởng
ông. Muốn hiểu ông, phải đọc qua những sách diễn giải tư tưởng ông.
Tôi vốn nghi kỵ những lối văn chuyên môn dành riêng cho từng khoa học.
Vì người ta rất dễ lạm dụng nó để lòe đời và như vậy người ta chỉ cần học
qua một mớ thuật ngữ là có thể bàn đến nhiều vấn đề vô lý dưới cái vẻ sành
sỏi.
Anatole France nói rất đúng: “Sự dốt nát sở dĩ có là do trong ngôn ngữ
chúng ta còn lắm danh từ nghĩa không được đích xác”.
Trong quyển “Luận Về Trí Năng Con người” nhà đại tư tưởng Locke đã
nói: “Muốn cho người ta thâu nhận những chủ nghĩa phi lý hoặc kỳ hoặc,
không có cách gì hay bằng bao phủ những lý thuyết ấy dưới một lớp danh
từ tối nghĩa, mù mờ hoặc không định rõ nghĩa”.
Tôi tin rằng người ta có thể bàn giải nhiều vấn đề mắc mỏ bằng một lối văn
thông thường, với những danh từ thông dụng, chỉ dùng đến những thuật ngữ
khi chúng ta không tìm thấy trong ngôn ngữ thông thường một danh từ
tương đương và nếu phải dùng đến một danh từ chuyên khoa ít ra chúng ta
phải định nghĩa nó cho rành mạch.
Đó cũng là quy tắc mà chúng tôi cố gắng theo khi soạn ra sách này. Chúng
tôi được sung sướng nếu tất cả bạn đọc đều có thể hiểu chúng tôi, dù là
người chỉ có sức học cơ sở sơ học.
Có cần gì phải nói không phải một khi gấp quyển sách này lại mà quý bạn
đọc đã trở thành một nhà tâm lý sành sỏi.
Việc dọ dẫm, khảo xét cá tính con người là một công việc tế nhị vì mỗi con
người là mỗi trường hợp riêng biệt.
Nhưng muốn giải đáp bài toán, ít ra cần phải biết những định lý căn bản.
Đây chỉ là một mớ tài liệu về khoa học của tâm hồn mà chúng tôi ước mong
rằng nó sẽ giúp cho những ai muốn tìm hiểu bài giải về cá tính con người.
CHƯƠNG II - NHỮNG PHƯƠNG PHÁP CỦA
TÂM LÝ HỌC
Đi xem một cuộc triển lãm hội hoạ, chúng ta nhận thấy các bức tranh trưng
bày chẳng những khác nhau về đề tài, về khuôn khổ mà còn khác nhau rất
nhiều về sắc độ. Bức thì màu sắc rực rỡ, bức lờ mờ, hoặc lộng lẫy, hoặc vui
hoặc buồn. Có bức thì đơn sắc, có bức lại gồm có nhiều màu sắc đối chọi
nhau một cách ngộ nghĩnh, có bức hình dáng chẳng khác gì một tấm thảm.
Tuy thế, tất cả những bức tranh ấy đều đặng tạo nên với một ít màu chính,
lúc nào cũng thế.
Cá tính của con người cũng giống như các bức tranh nói trên. Tuy nó hiện
ra dưới bao nhiêu sắc thái nhưng tựu trung nó cũng chỉ đặng tạo nên bởi
một ít bẩm màu căn bản. Chính sự phối hợp vô cùng phức tạp của những
bẩm chất này đã làm cho có sự khác nhau giữa loài người, làm thành bao
nhiêu hạng người.
Tâm lý học nhằm hai mục tiêu: Tìm xem đâu là những bẩm chất cốt yếu của
con người và sau khi đã định rõ giá trị mỗi bẩm chất ở một người, sẽ tiên
đoán thái độ, lối xử sự của người ấy.
Hai cá tính của con người:
Từ lâu rồi người ta đã ngờ ngợ rằng những yếu tố cấu thành cá tính con
người có thể phân làm hai loại. Người ta nhận thấy một cách mơ hồ rằng
trong thâm tâm của mỗi người đều có một cái gì vững vàng, suốt đời không
thay đổi và bao phủ trên cái cái phần ấy, như một cái mặt nạ, còn có một cá
tính khác, uyển chuyển hơn, biến hóa hơn, lại chịu ảnh hưởng của những
biến cố bên ngoài.
Một trong những thắng lợi của tâm lý học hiện giờ là đã chỉ định một cách
rõ rệt rằng trong mỗi người đều có hai cá tính.
Lúc chào đời chúng ta mang sẵn trong người cái cá tính thiên nhiên.
Những yếu tố của nó làm nòng cốt cho cái khí chất và cái trí tuệ của chúng
ta. Cái cá tính thứ nhì được gọi là cá tính tập thành bởi nó được kết thành
do những hiện tượng bên ngoài, do tất cả những biến cố của đời sống.
Đôi khi các nhà khoa học cũng gọi nó là “bản ngã căn bản”, “bản ngã ngoại
diện”. Nhưng chúng ta xin miễn dùng những tiếng “lóng” ấy và chỉ có thể
nói một cách giản dị là mỗi người khi sinh ra đời đều có nhận được một số
dụng cụ hoặc tốt hoặc xấu, đó là cá tính thiên nhiên. Dưới ảnh hưởng của
những hiện tượng đời sống, họ sẽ dùng những công cụ ấy để xây dựng cá
tính tập thành.
Bây giờ chúng ta hãy xem xét cái cá tính thiên nhiên ấy làm bằng những gì?
Lúc sinh ra đời, chúng ta đã nhận được những dụng cụ gì? Những bẩm chất
nào là những bẩm chất căn bản? Bao nhiêu câu hỏi mà bấy lâu nay người ta
không tìm ra lời giải.
Tuy thế, từ lúc nào cũng như lúc nào, con người luôn luôn muốn tìm hiểu lý
do những hành động của mình. Họ tự dò la, khảo sát, tự thú. Họ đã ghi chép
kết quả của những cuộc khảo sát này trong bao nhiêu sách vở: tiểu thuyết,
ký sự, khái luận, khảo cứu và thu thập rất nhiều tài liệu song chẳng đi đến
một kết quả khả quan nào. Không thể xếp thành loại mớ tài liệu ấy, cũng
không thể rút ra những quy tắc tổng quát. Ngay việc đặt để và định nghĩa
các danh từ, những tác giả cũng chưa đồng ý thay. Việc dùng “phương pháp
nội quan” để tìm hiểu tâm lý con người đã thất bại.
Vì sao? Bởi khi người ta chỉ trông qua một bức tranh thì không tài nào có
thể phân định những màu căn bản mà họa sĩ đã dùng để vẽ bức tranh ấy.
Hẳn thí dụ rằng loài người chưa biết thuật hội họa. Có thể nào qua một bức
tranh chúng ta phân tách nổi trong bức tranh ấy có bao nhiêu chất màu
xanh, và cách phân phối màu xanh ấy ra sao? Chúng ta có biết màu xanh là
màu căn bản chăng? Chắc là không, cho đến khi chúng ta tìm ra một
phương pháp có thể làm nổi bật ra một màu này hoặc một màu khác trong
bảy màu của cầu vòng. Lúc bấy giờ chúng ta mới rõ: chỉ có bảy màu chính,
bảy màu căn bản, cách phân phối những màu ấy ra sao, và chúng ta biết rõ
tất cả các sắc do sự pha trộn của hai hoặc nhiều màu trổ ra.
Cách nhà tâm lý học hiện giờ đã tìm ra một thứ “thuốc thử” na ná như thể
để phân tách rõ rệt những yếu tốt tạo thành cá tính con người. Thuốc thử đó
là bệnh điện.
Thuốc thử của bệnh điên:
Nếu khoa học tâm lý về con người ngày nay đã có một nền tảng vững
chắc đó là nhờ công trình của nhiều nhà chuyên về bệnh tinh thần như
Ernest Dupré chẳng hạn và nhất là nhờ những phát minh của hai nhà bác
học: Giáo sư F. Achille Delmas, một tâm y sĩ có tiếng và giáo sư Marcel
Boll, một nhà khoa học mà cũng là một nhà văn, một nhà phê bình nhiều
người biết đến.
Họ đáng cho chúng ta ghi ân. Chính họ là những người sáng tạo ra nền tâm
lý học tân thời. Chẳng những họ đã lập ra một lối phân loại rất hợp lý về
các bẩm chất căn bản của cá tính con người, ngoài ra họ cũng là những
người đầu tiên đã phân biệt có hai loại tâm lý học: Một thứ tâm lý học tịnh
khảo sát về cá tính thiên nhiên và các tính tập thành. Một thứ tâm lý học
động khảo sát về lối cư xử, thái độ của con người. Nói một cách khác, có
thứ tâm lý học chuyên khảo xét về các bộ phận của guồng máy lại có thứ
chuyên khảo về cách vận dụng của guồng máy ấy.
Chính tôi đã căn cứ trên lý thuyết của hai nhà khoa học ấy để xây dựng cái
nền tảng vững chắc của sách này, và trong bao nhiêu áp dụng mà tôi đã đề
cập trong sách này tôi chưa hề thấy lý thuyết ấy sai chạy ở một điểm nào.
Muốn hiểu rõ tại sao người ta có thể dùng người điên để phân tích tâm trí
của người có đủ lý trí, chúng ta cần hiểu qua về những chứng bệnh tinh thần
và cách xếp loại của nó.
Xưa kia người ta không biết gì về bệnh điên cả. Thấy người nào nói xàm
nói nhảm hoặc có những hành động kỳ dị, người ta cho rằng họ điên hoặc
khùng, không hơn không kém. Tuy rằng người ta đã nhận thấy có nhiều
chứng cuồng tâm, loạn óc song không ai buồn nghiên cứu những bệnh ấy.
Cho đến cuối thế kỷ XVIII người ta vẫn còn xem những người điên như
loài ác thú, người ta cùm xích họ lại, họ sống một đời sống đáng thương
hại.
Đến đầu thế kỷ XIX, mới có một nhà y sĩ từ tâm biết nghiêng mình xuống
số phận hẩm hiu của những người bạc phúc ấy. Đó là ông Pinel. Ông đã kéo
họ ra khỏi chốn cực hình, đã bắt đầu nghiên cứu về họ một cách hợp lý.
Suốt thế kỷ gần đây, nhiều người khác đã tiếp tục việc khảo cứu này và
ngày ngay, khoa tâm y học tức là khoa học nghiên cứu về các chứng bệnh
tinh thần đã tiến bộ một cách khả quan. Những công cuộc nghiên cứu liên
tục này đã giúp người ta tìm ra một lối xếp loại rất quan trọng: Phân chia
các chứng bệnh tinh thần ra làm hai nhóm riêng biệt: Những bệnh do
thương tích gây ra và những bệnh do thể tạng tức là do sự cấu thành
của thể chất tạo nên.
Những bệnh điên do thương tích gây ra:
Những bệnh điên do thương tích có những đặc điểm cốt yếu sau đây:
Con bệnh luôn có những vết thương trong óc, người ta tìm thấy những vết
thương này khi mổ thây người chết để khám nghiệm.
Có thể đây là một chứng bệnh tập thành chứ không phải do thiên bẩm, vì
những vết thương này phát ra sau khi con người đã sinh ra hoặc nếu sớm
hơn, thì cũng là khi bào thai đã tượng hình.
Tùy theo vết thương có tính chất vĩnh viễn hay tạm bợ, người ta sẽ chia
những bệnh do thương tích này làm hai loại:
Loại đầu gồm những chứng mất trí, ngu đần, động kinh, bất toại, điên
cuồng, lẩm cẩm vì già nua. Loại sau gồm những bệnh điên phát sinh bởi
một vết thương hoặc một chất độc (rượu, thuốc phiện v.v…).
Những bệnh này thường đều bất trị, trừ những bệnh thuộc loại thứ hai và ở
trường hợp mà chất độc chỉ gây những thương tích nhẹ.
Những bệnh điên do thể tạng gây ra:
Những bệnh tinh thần thuộc nhóm thứ hai, tức là những bệnh điên do
thể tạng sinh ra, mới đáng cho người muốn nghiên cứu về tâm lý học quan
tâm hơn.
Những bệnh thuộc nhóm này có hai thuộc tính:
Nó do thiên bẩm. Mầm gốc những chứng bệnh ấy đã sẵn có trong người
con bệnh từ lúc họ mới lọt lòng. Rất có thể và thường khi như thế, bệnh ấy
chưa phát triển đầy đủ lúc con bệnh còn thơ ấu, bởi sự phát triển ấy có thể
hoặc sớm hoặc muộn, tuy nhiên người ta luôn luôn nhận thấy điều này là
những bệnh ấy do thể tạng của con bệnh tức là do cơ cấu thể chất mà họ có
sẵn từ lúc họ ra chào đời. (Giáo sư F. Achille Delmas định nghĩa cơ cấu tâm
bệnh như thế này: Đó là một nhóm xu hướng tâm thần nhất định, thuộc cá
tính thiên nhiên của con bệnh, phát triển lúc người ấy mới sinh ra, và suốt
đời họ, bộc lộ bởi những phản ứng mạnh hay yếu… nó có thể đi đến những
chứng bệnh thần kinh tuần hoàn, thuyên giảm trong chốc lát hoặc tiệm tiến
(nghĩa là bệnh điên phát triển trong một thời kỳ gần hay xa hoặc tuần tự mà
tiến). – Bài phúc trình về tâm bệnh học ở hội nghị Limoges, từ ngày 25 đến
30 tháng 7 năm 1932.
(Còn vấn đề: Bằng cách nào và do đâu bệnh điên có thể phát sinh từ một cư
cấu tâm bệnh thì người ta chỉ hiểu lờ mờ. Trong bản phúc trình nói trên,
giáo sư Delmas chỉ thử tìm cách giải).
Những con bệnh này không mang vết thương tích nào trong óc cả. Khi
người ta khám tử thi một người bệnh điên thuộc nhóm này, người ta thấy óc
họ chẳng khác gì óc một người lành mạnh. Rất có thể sự giống nhau ấy chỉ
có ở mặt ngoài, còn nếu có chỗ khác nhau thì những phương tiện tìm tòi
hiện giờ cũng chưa cho phép chúng ta nhận thấy những đặc điểm của các
khối óc bệnh hoạn ấy.
Điều quan trọng cũng là điều cốt yếu trong việc nghiên cứu của chúng ta là
những chứng bệnh ấy chỉ là sự lệch lạc, sự phát triển quá độ hoặc sự khuyết
kém những yếu tố căn bản tạo thành cá tính của một người lành mạnh.
Ở người lành mạnh, những yếu tố ấy pha trộn, phối hợp lẫn nhau một cách
điều hòa khó lòng cho chúng ta phân biệt.
Ở những con bệnh tinh thần trái lại tính cách bất thường của những yếu tố
ấy làm cho nó nổi bật lên trên cá tính, nhờ đó chúng ta rất dễ thấy.
Vì thế chúng ta có thể dùng những bệnh “điên” thuộc nhóm sau này như
một thứ “thuốc thử” mà chúng tôi đã nói ở trước. Một khi có thể phân biệt
và xếp những chứng bệnh ấy thành loại thì chúng ta cũng đã biết rõ có bao
nhiêu bẩm chất căn bản tạo thành cá tính con người. Công trình nghiên cứu
của hai ông F. A Delmas và M. Boll là đã xác định lối phân loại ấy.
CHƯƠNG III - NHỮNG CHỨNG BỆNH TINH
THẦN DO THỂ TẠNG GÂY RA
Có thể chia những bệnh này làm ra năm loại. Dưới đây chúng ta sẽ nghiên
cứu riêng từng loại.
Chứng cuồng vọng (paranoia):
Loại này là do sự cuồng vọng của óc đòi hỏi gây ra, y học gọi nó là
bệnh paranoia, nhưng xét theo nguồn gốc thì danh từ này đặt chưa thật xác
nghĩa, bởi theo tiếng Hy Lạp thì paranoia có nghĩa là “lý luận lạc đề”.
Chúng ta cứ gọi là bệnh “cuồng vọng” cho dễ hiểu.
Người bị cuồng vọng luôn luôn đòi hỏi hơn những quyền lợi hoặc quyền
hạn mà họ có. Họ tự ban cho mình những tài sản phi thường, tự đặt cho
mình những tước vị không thể tưởng tượng. Họ mong chờ những gia tài
kếch sù, tự xưng là vua là hoàng đế đôi khi là Thượng Đế. (Ông N. P. Thiên
vương nào đó mà vừa rồi báo chí có nói đến, đã tự gán cho mình ba cấp
bằng thạc sĩ và tự xưng là hoàng đế Việt Nam, rõ là một con bệnh cuồng
vọng (1956).
Và đương nhiên họ không bao giờ đoạt được những gì mà họ tưởng rằng họ
phải có, hoặc có quyển hưởng, nên họ đâm ra bất mãn, tưởng rằng mình bị
ngược đãi hoặc bị những kẻ thù tưởng tượng ám hại. Sự cuồng loạn của tinh
thần bị ngược đãi là kết quả đương nhiên của bệnh cuồng vọng.
Những con bệnh cuồng vọng này cũng như những con bệnh sẽ được kể
dưới đây, mới xét ra chúng ta không thấy vẻ gì tỏ ra là người cuồng trí,
nhưng họ có thể trở nên nguy hiểm. Bởi như đã nói trước, họ cho rằng nỗi
khổ tâm, những thất vọng của họ là do những kẻ thù địch vô danh gây ra, và
một ngày kia họ có thể nhận thấy kẻ thù địch ấy ở một cá nhân hoặc ở
những người nà...
Tên sách : Biết Người
Nguyên tác : La Connaissanee Des Hommes
Tác giả : Philippe Girardet
Dịch giả : Phạm Cao Tùng
Thể loại : Tâm lý học
Năm xuất bản : 1956
---------------------------------Đánh máy : ldlvinhquang
Chuyển sang ebook (TVE) : santseiya
Ngày hoàn thành : 26/10/2008
Nơi hoàn thành : Hà Nội
Ebook miễn phí tại : www.Sachvui.Com
Mục Lục
LỜI NÓI ĐẦU CỦA DỊCH GIẢ
PHẦN MỘT: CÁ TÍNH CỦA CON NGƯỜI
CHƯƠNG I - NHỮNG LỢI ÍCH CỦA TÂM LÝ
HỌC
CHƯƠNG II - NHỮNG PHƯƠNG PHÁP CỦA
TÂM LÝ HỌC
CHƯƠNG III - NHỮNG CHỨNG BỆNH TINH
THẦN DO THỂ TẠNG GÂY RA
CHƯƠNG IV
CHƯƠNG V - CÁ TÍNH TẬP THÀNH
CHƯƠNG VI - TÂM TRÍ
CHƯƠNG VII - TÂM TÍNH
CHƯƠNG VIII - CÁI PHƯƠNG TRÌNH CỦA
CÁ TÍNH
PHẦN HAI: TÂM LÝ ĐỘNG
CHƯƠNG I - GUỒNG MÁY CỦA TÂM NÃO
CHƯƠNG II
CHƯƠNG III
CHƯƠNG IV - Ý CHÍ
PHẦN BA: NHỮNG ÁP DỤNG CỦA TÂM LÝ
HỌC
CHƯƠNG I - BẠN BÈ VÀ GIA ĐÌNH
CHƯƠNG II - HÔN NHÂN VÀ HỢP ĐOÀN
CHƯƠNG III - ÁI TÌNH VÀ PHỤ NỮ
CHƯƠNG IV - TÂM LÝ HỌC VÀ VĂN
CHƯƠNG
CHƯƠNG V - TÂM LÝ HỌC VÀ NGHỆ
THUẬT BÁN HÀNG
CHƯƠNG VI - VẤN ĐỀ TUYỂN TRẠCH
CHƯƠNG VII - BÀN VỀ CÁCH CHỌN
NHỮNG NGƯỜI GIÚP VIỆC
CHƯƠNG VIII - BÀN VỀ LỐI KHẢO XÉT
NGƯỜI CÁCH TRỰC TIẾP
CHƯƠNG IX - TÂM LÝ HỌC ÁP DỤNG VÀO
VIỆC CẢI TẠO BẢN THÂN
CHƯƠNG X - MÊ TÍN, TẬP TỤC VÀ TÍN
NGƯỠNG
CHƯƠNG XI - NHỮNG THỨ THUỐC ĐỘC
GIẾT NGƯỜI
CHƯƠNG XII - CẦN LAO, TỰ DO VÀ HẠNH
PHÚC
LỜI NÓI ĐẦU CỦA DỊCH GIẢ
Tâm lý học là một khoa học người ta thường nhắc nhở đến nhiều nhất, song
cũng là một môn khoa học mà ít người hiểu nó nhất, lại càng ít người biết
áp dụng một cách hữu ích trong đời sống thực tiễn.
Trong rạp hát, sau khi anh kép cao hứng xổ một tràng lý luận dài dòng và
kết thúc bằng một câu đại để: “Tiền! Tiền! Than ôi đời này chỉ có tiền, chỉ
vì tiền, tiền là tất cả. Tiền! Tiền! Vì mi mà người ta đã phạm bao nhiêu tội
ác”. Một tràng pháo tay phát lên từ những hàng ghế cuối cùng, ông khán giả
ngồi kề tôi cũng gật đầu nói với người bạn: “Đúng là tâm lý hết sức!”.
Cô Hai bán hàng đọc xong một quyển “tâm lý xã hội ái tình, tiểu thuyết”
trong đó kể lại một câu chuyện cũ rích như quả địa cầu đại khái: Chàng yêu
nàng, dan díu với nàng, nhưng sau đó nghe lời cha mẹ bỏ rời nàng để cưới
một cô gái khác có bề thế hơn, bình phẩm với cô bạn đồng sự: “Thật đúng
là tâm lý người đời!”.
Đó, đại để phần đông người ta chỉ hiểu tâm lý học qua một vài điểm tâm lý
sơ đẳng như thế. Ngoài ra họ không biết rõ tâm lý học nghiên cứu những gì,
những phương pháp hoặc công dụng của tâm lý học ra sao cả.
Chúng ta đừng nghĩ rằng những người văn hóa khá cao, những người đã
từng theo học lớp triết học ban tú tài chẳng hạn có một ý niệm rõ rệt hơn về
tâm lý học. Vâng, trong những lớp triết học họ có học qua môn tâm lý học
thật, các giáo sư giảng giải cho họ biết những sinh hoạt của tình cảm, của trí
thức, có định nghĩa cho họ hiểu thế nào là ý thức, thế nào là vô thức. Họ
cũng phân loại các khuynh hướng, các cảm giác, các ảnh tượng. Họ cũng
biết phân biệt thuyết chủ nghiệm khác thuyết chủ lý ra sao. Nhưng sau mấy
năm đèn sách, mớ trí thức họ đã thâu thập về tâm lý học vẫn lẻ tẻ, rời rạc,
có thể thỏa mãn óc tò mò của trí thức nhiều hơn là giúp ích cho họ. Vì thế
không mấy người biết nhận định một cách rõ rệt, tổng quát về cái “khoa học
của đời sống” ấy và khi bước ra thực tế không mấy người biết áp dụng tâm
lý học một cách có ích lợi.
Về tâm lý học, ngoài các phần tâm lý học thuần túy mà người ta cũng gọi là
tâm lý học ở nhà trường, còn phần tâm lý học thực tiễn, cái phần tâm lý học
“có thể dùng vào một công việc gì” mà các nhà tâm lý học hiện giờ, nhất là
những nhà tâm lý học Anh–Mỹ vốn vẫn có óc thực tiễn, đặc biệt chú trọng
và đang hướng những tìm tòi, khảo cứu của họ vào đó.
Người ta có thể áp dụng tâm lý học vào các ngành đại để:
Về y học: Khoa phân tâm thần học, tâm lý học.
Về chức nghiệp: Hướng dẫn trong việc chọn nghề, tuyển trạch người làm,
tổ chức công việc làm.
Về giáo dục: Hướng dẫn việc học, tuyển trạch, tâm lý nhi đồng, khoa sư
phạm.
Về thương mại: Bán hàng, quảng cáo.
“Và ngay trong đời sống hàng ngày, người ta luôn luôn có dịp nhờ đến tâm
lý học để nhận định rõ rệt cá tính của người mình giao tiếp, để hiểu rõ dục
vọng, sở thích của họ, để biết họ muốn gì, suy nghĩ những gì và cảm tưởng
họ ra sao. Người bán hàng cần biết gợi sự ham thích của khách hàng để họ
mua hàng. Nhà y sĩ cần biết phán đoán về người bệnh. Viên sĩ quan cần
hiểu những binh sĩ dưới tay mình. Nhà văn cần hiểu tâm lý các nhân vật
mình tạo ra. Vợ chồng cần hiểu nhau. Cha mẹ cần hiểu con cái.
Đó âu cũng là một khuyết điểm lớn của nền giáo dục hiện tại, chỉ quan tâm
đến chữ “Trí” mà ít nghĩ đến chữ “Hành”, chỉ lo dạy cho bạn trẻ “biết” thật
nhiều điều mà không dạy cho chúng “biết hành động” hoặc ít ra vạch cho
chúng “biết đường lối để hành động”. Các giáo sư thường nhồi nhét vào óc
các sinh viên mớ hiểu biết hỗn tạp với những lý thuyết, những giả thuyết,
những tài liệu, những thí nghiệm mà các nhà tâm lý học xưa nay đã thâu
thập. Có mấy người đã biết vạch cho bạn trẻ rõ: Bằng cách nào người ta có
thể dùng tâm lý học để phát triển cá tính của mình, có thể dùng kỹ thuật tâm
lý học nào để làm cho mình thêm sức hăng hái hoạt động hoặc thêm sức
chịu đựng, dùng tâm lý học cách nào để quan sát, phân tách và nhận xét tâm
tính của những người mình gần gũi?
Vì thế, đa số các bạn trẻ (kể luôn những bạn trẻ có học) rất ngỡ ngàng khi
bước ra đời thực tế và họ thường tỏ ra bất lực khi phải hành động. Mớ kiến
thức của họ chỉ là những món đồ trang hoàng chứ không phải là những
dụng cụ có thể giúp họ xây dựng một đời sống tươi đẹp cho riêng cá nhân
họ chứ đừng nói đến việc thực hiện những công cuộc gì lớn lao có thể giúp
ích cho xứ sở, cho nhân loại.
Quyển “La Connaissanee Des Hommes” của Philippe Girardet mà chúng
tôi đã dịch và trình diện sau đây là một quyển sách thực tiễn. Tác giả vốn là
một nhà văn nhưng đã từng lăn lộn trong giới doanh nghiệp, gần gũi với
thực tế nên những sách ông soạn phần nhiều đều có tính cách thực tiễn. Dựa
vào một lý thuyết về cá tính con người của hai giáo sư F. Achille Delmas và
Marcel Boll, ông thử áp dụng thuyết ấy vào đời sống thực tiễn và theo lời
ông thú nhận: “Không lúc nào ông thấy nó sai”. Đặc biệt nhất là ông đã
khéo trình bày một vấn đề trừu tượng bằng một cách rất “sống”, ông đã
khéo giảng giải một khoa học khúc chiết một cách rất sáng sủa.
Riêng chúng tôi, cũng nhờ may mắn có dịp đọc qua quyển “La Personnalité
Humaine” của F. Achille và M. Boll mà thấy thích thú nghiên cứu về tâm
lý học và cũng đặng hiểu nó một cách rõ ràng hơn. Chúng tôi cũng đã thử
áp dụng tâm lý học một cách ích lợi trong nhiều ngành mà chúng tôi đã có
dịp trình bày với độc giả hai quyển “Nghề Bán Hàng” và “Tâm Lý Ái
Tình”. Cũng từ lâu rồi, chúng tôi có ý định giới thiệu lý thuyết của hai giáo
sư ấy với độc giả trong nước nhưng chưa biết phải trình bày thế nào cho dễ
hiểu vì nếu dịch thẳng quyển “La Personnalité Humaine” của F. Achille và
M. Boll ra Việt văn thì chắc không bổ ích bao nhiêu vì hai nhà tâm lý học
này trình bày thuyết của họ theo lối các nhà bác học nghĩa là đứng trên tầm
hiểu biết của họ mà giải thích, bất chấp trình độ hiểu biết của phần đông
độc giả, thì học chăng chỉ có ích cho một số hiếm người đã từng gần gũi với
nhiều loại sách tâm lý. Tình cờ chúng tôi có dịp đọc quyển “La
Connaissanee Des Hommes” của Philippe Girardet trong đó tác giả cũng có
ý định như chúng tôi là thử giải thích thuyết ấy cho đa số người đọc có thể
hiểu, lẽ dĩ nhiên là cho độc giả Pháp, và thử áp dụng thuyết ấy vào đời sống
thực tiễn.
Ông Philippe Girardet đã viết một quyển sách chúng tôi định viết. Không
phải mất thì giờ để làm lại công việc đã có người khác làm và làm rất hay,
chúng tôi thấy chỉ việc xin phép tác giả cho dịch sách ấy ra Việt văn là có
thể thực hiện ý định của mình. Tác giả đã vui lòng cho phép và hôm nay
quý độc giả có dịp đọc quyển “Biết Người”, tâm lý học áp dụng vào đời
sống thực tiễn, sớm hơn chúng tôi đã tiên liệu.
Sở dĩ chúng tôi dịch quyển “Biết Người” vì muốn giới thiệu với độc giả
một khoa học rất hữu ích: Tâm lý học, mà nhất là vì đó là một quyển sách
phổ thông kho học đã đặng viết bằng một lối văn hết sức giản dị, dễ hiểu.
Đó là một thí nghiệm chứng tỏ người ta có thể giảng giải những khoa học
khúc chiết bằng một lối văn thông thường cho mọi người có thể đọc và
hiểu. Tác giả có nói rõ ý định của mình ở chương đầu sau đây. Riêng về
phần tác giả, chúng tôi nhận thấy ông đã đạt mục đích một cách rực rỡ.
Những ai từng có dịp đọc qua quyển “La Personnalité Humaine” của F.
Achille và M. Boll và quyển“La Connaissanee Des Hommes” của Philippe
Girardet ắt cũng phải đồng ý với chúng tôi rằng chính ông sau này đã giúp
chúng ta hiểu rõ lý thuyết của Delmas và M. Boll còn hơn hai người cha đẻ
ra thuyết ấy.
Nhưng về phần dịch giả, chúng tôi có đạt được mục đích ấy chăng? Điều đó
cũng còn tùy sự rộng lượng của độc giả. Khoa tâm lý học đối với chúng ta
còn mới quá, sách về tâm lý chưa có bao nhiêu, chúng ta lại thiếu cả những
danh từ về tâm lý học. Vì thế trong sách này mỗi khi phải dùng đến một
danh từ hơi chuyên môn hoặc chưa được thống nhất chúng tôi có chua thêm
tiếng Pháp để độc giả có dịp đối chiếu và ở phần sau sách chúng tôi có làm
một tự vựng giải thích các danh từ ấy.
Tin rằng một khi đã hiểu qua những khó khăn ấy, quý độc giả chẳng những
sẽ không “quá nghiêm khắc” đối với chúng tôi mà còn sẵn lòng chỉ bảo cho
những khuyết điểm và chúng tôi xin có lời thành thật cảm ơn trước.
Dịch giả cẩn chí
Tháng 5/1956
PHẦN MỘT: CÁ TÍNH CỦA CON NGƯỜI
CHƯƠNG I - NHỮNG LỢI ÍCH CỦA TÂM LÝ
HỌC
Một điều hơi lạ, trong việc đào luyện con người, người ta không mấy quan
tâm đến môn tâm lý học. Trong chương trình học vấn, người ta không đếm
xỉa đến nó hoặc chỉ dạy phớt qua. Có lẽ người ta nghĩ rằng những lớp triết
học mà một số ít sinh viên ban trung học có dịp theo đuổi, là những hành lý
đầy đủ để họ xông pha trên trường đời. Ngoài ra người ta phó thác họ cho
đời chỉ dạy.
Theo ý kiến một vài nhà giáo dục, chúng ta nhồi nhét vào trí óc của trẻ em
quá nhiều tri thức. Chúng ta muốn nhào nặn khối óc của chúng trở thành
một bộ bách khoa toàn thư “sống”, nhưng chúng ta quên dạy chúng cái
khoa học cốt yếu, quên trao cho chúng cái chìa khóa có thể mở các cánh
cửa: tâm lý học.
Ngoại trừ bị giam hãm suốt đời trong một phòng thí nghiệm hoặc trong một
xưởng máy, chúng ta luôn luôn cần nhờ đến người khác để áp dụng những
điều hiểu biết của mình hoặc đối phó với sự thờ ơ, ghét vơ của họ.
Nên chúng ta dốt đặc về tâm lý học, nếu chúng ta không hiểu về những định
luật bất dịch chi phối những thị dục của con người, nếu chúng ta không
đặng dẫn dắt bởi những chân lý đã từng thí nghiệm, thì với hiểu biết của
chúng ta rất có thể đưa chúng ta tới thất bại. Chúng ta có thể nói không sợ
lầm rằng: sự hiểu biết của mọi người có đắc dụng chăng là tùy thuộc sự
thấu đáo về tâm lý của họ.
Kiến nghiệm và khoa học:
Đành rằng, kinh nghiệm của sự đời cũng có thể giúp chúng ta nhận xét
để hiểu biết người. Thường gần gũi với người đồng loại, chúng ta có thể
phán đoán về họ, nếu chúng ta có chút ít khả năng về việc đánh giá con
người.
Nhưng chúng ta đừng lầm lộn việc áp dụng thực tiễn một khoa học với
khảo cứu những nguyên tắc của nó. Cái kinh nghiệm chúng ta thâu rút khi
chung đụng với đời có thể hợp thành một phương pháp kinh nghiệm.
(Phương pháp kinh nghiệm là phương pháp chỉ được căn cứ vào những
kinh nghiệm, không chịu tìm hiểu nguyên do, khác với phương pháp thực
nghiệm căn cứ trên những thí nghiệm khoa học. Thí dụ Đông y dựa vào
phương pháp kinh nghiệm và Tây y sau khi trải qua giai đoạn kinh nghiệm,
đã tiến đến giai đoạn thực nghiệm). Dù không có ý khinh rẻ phương pháp
kinh nghiệm, chúng ta cũng phải nhận thấy nó có lắm bất tiện. Muốn dùng
đặng nó chúng ta phải trả một giá khá đắt: phải trải qua những lỗi lầm, đau
thương, phải mất bao nhiêu thời giờ, bao nhiêu cố gắng. Đó là chưa kể
muốn áp dụng đặng những kinh nghiệm ấy chúng ta phải có đôi chút khả
năng thiên nhiên; trái lại, phương pháp thực nghiệm căn cứ trên những nền
tảng khoa học có thể giúp ích cho một số đông người có những khả năng
tầm thường.
Ở ngoài đời, chúng ta đã từng thấy có người văn hóa rất kém (mà chúng tôi
đã đặt cho họ cái tên hơi bất công là “những người sơ đẳng”) đã chiếm đặng
những địa vị khả quan trong xã hội. Có nên vì đó mà kết luận rằng văn hóa
không cần thiết để thành công?
Có lắm tay ngang thiếu học chuyên môn những cũng cạy cục rất tài để có
thể ráp nỗi một bộ máy vô tuyến truyền thanh rắc rối. Tuy không biết qua
về lý thuyết nhưng nhờ có mó tay vào thực hành nên họ cũng có thể bàn về
“tần số”, về “cuộn xen”, về “máy phát sóng”… một cách khá rành rẽ. Có
phải vì thế mà chúng ta nên cho rằng muốn học về vô tuyến điện không cần
phải học qua phần lý thuyết? Chắc chắn là không ai sẽ nghĩ như thế, vì ai ai
cũng thấy rõ, một tay ngang thiếu cơ sở khoa học mà ráp nổi bộ máy truyền
thanh ấy, ắt đã mất bao nhiêu thì giờ, bao nhiêu dọ dẫm và bao nhiêu nhẫn
nại mới có thể đạt đến đích, đó là chưa kể hắn phải có nhiều tài quan sát.
Một kỹ sư điện học, trái lại chỉ cần vài giờ suy nghĩ là có thể ráp xong máy
ấy nhờ áp dụng những hiểu biết về lý thuyết mà ông ta đã thu thập được khi
học ở trường.
Biết người:
Bí quyết của thành công, trong đời sống cũng như doanh nghiệp gồm
hai chữ “Biết Người”. Ở đây chúng ta không nên hiểu hai chữ “thành công”
với cái nghĩa hẹp hòi là thâu đoạt được nhiều tiền của, nhiều danh vọng, mà
nên hiểu rộng là sự tiến bộ về tri thức cũng như về vật chất, là sự hoàn
thành một cách hợp lý cái nhiệm vụ mà đời sống đã vạch cho mình.
Một người bán hàng, một thương gia dù sẵn có nhiều khả năng thể chất hoạt
động tâm thần cũng chưa ắt đã dễ thành công nếu họ thiếu đức mẫn tiệp,
thiếu hiểu biết về tâm lý học để có thể gợi sự thèm thuồng của khách hàng.
Một kỹ sư khôi nguyên ở trường bách khoa xuất thân rất có thể thất bại
trong những công trình của mình, nếu họ không biết gì về cá tính của những
nhân viên làm việc dưới tay họ.
Một doanh nghiệp có thể suy sụp dù rằng được điều khiển bởi một viên
giám đốc có tài, nếu ông ta lầm lỗi trong việc tuyển chọn những nhân viên
cần thiết giúp ông ta làm tròn nhiệm vụ.
Một tay cuộc chê đi chào mời khách hàng bảo hiểm nhân mạng, dù rằng có
biết rõ sự ích lợi về mặt xã hội của việc bảo hiểm, cũng chưa ắt đã có thể
khuyến dụ khách hàng ký hợp đồng nếu hắn không biết cách trình bày
những lý lẽ một cách khéo léo để cho khách hàng gật đầu.
Một người có thể có tài viết văn, nhưng làm báo lại rất dở nếu họ không
hiểu tâm lý quần chúng. Một họa sĩ dù có sẵn thiên tư cũng cần thấu đáo cá
tính của người mẫu mới mong đạt được sắc diện của người ấy nổi. Một nghị
sĩ phải thấu hiểu cử tri của mình. Một trạng sư: những thân chủ của mình.
Một y sĩ: những bệnh nhân của mình. Một sĩ quan: những quân sĩ của mình.
Một vị thuyền trưởng: đoàn thủy thủ của mình. Chỉ có nhân viên thu thuế
là… không cần hiểu những tên dân đen.
Trong đời sống thực tiễn, những cuộc xào xáo trong gia đình, những xích
mích giữa bạn bè, những bất mãn do người giúp việc bất tín gây ra, những
thất vọng về đường tình duyên thường có nguyên do bởi sự dốt nát về tâm
lý học.
Như chúng ta đã thấy, bất luận trong ngành sinh hoạt nào, chúng ta cũng
cần biết rõ cá tính của những người mà chúng ta có liên lạc gần hay xa.
Nghiên cứu về tâm lý học chẳng những giúp ích chúng ta rất nhiều trong
phạm vi chức nghiệp, ngoài ra nó còn giúp chúng ta thâu đoạt nhiều kết quả
thiết thực trên đường giao thiệp.
Ngày nay, tâm lý học là một khoa học có thể truyền dạy cũng như bao nhiêu
khoa học khác. Với một bộ óc thông minh trung bình người ta cũng có thể
học và hiểu nó. Nó cũng không bắt buộc người học phải có số vốn về triết
học. Nó căn cứ trên những yếu chỉ và những nguyên tắc có lẽ còn giản dị
hơn môn hình học hoặc vật lý học. Người đã có một cơ sở tâm lý học sẽ dễ
mà rút tỉa những cái hay trong mớ kinh nghiệm mà đời sống sẽ đưa đến cho
họ sau này. Họ sẽ dễ thông cảm, mau hiểu người đồng loại hơn cũng như
viên kỹ sư điện học dễ mò ra những bí quyết của vô tuyến điện hơn một tay
ngang chỉ dựa vào mớ kinh nghiệm.
Lối văn “triết học”:
Nói cho đúng, việc đọc sách khảo cứu về tâm lý học thường dễ làm cho
người dù hiếu học đến đâu cũng đâm ra chán nản. Nản vì “lối văn triết học”
mà phần nhiều tác giả sách này quen dùng, lối văn mà A. Abalat đã chỉ
trích gắt gao trong mấy tác phẩm bàn về nghệ thuật viết văn. Kể ra “lối văn
triết học” này có thể so sánh với “lối văn sở cẩm” mà André Thérive đã
từng chế giễu. Và có khi nó còn tệ hơn, vì trong lối văn sau này, những
danh từ dùng sai nghĩa song người ta còn có thể đoán được chứ đọc “lối văn
triết học” thì chẳng khác gì đọc sấm ký, bởi tác giả thường khéo che đậy
một cái trống không to tướng dưới một lớp danh từ khúc mắc có vẻ khoa
học.
Đành rằng văn của Bergson (Nhà triết học Ly Lạp) cũng tối mò song ít ra
chúng ta còn thưởng thức đặng cách bố trí chặt chẽ những ức thuyết rất tân
kỳ của ông. Dù vậy, tôi cũng mạn phép trách ông điều này là ông đã không
biết làm cho một người chỉ có óc thông minh trung bình hiểu đặng tư tưởng
ông. Muốn hiểu ông, phải đọc qua những sách diễn giải tư tưởng ông.
Tôi vốn nghi kỵ những lối văn chuyên môn dành riêng cho từng khoa học.
Vì người ta rất dễ lạm dụng nó để lòe đời và như vậy người ta chỉ cần học
qua một mớ thuật ngữ là có thể bàn đến nhiều vấn đề vô lý dưới cái vẻ sành
sỏi.
Anatole France nói rất đúng: “Sự dốt nát sở dĩ có là do trong ngôn ngữ
chúng ta còn lắm danh từ nghĩa không được đích xác”.
Trong quyển “Luận Về Trí Năng Con người” nhà đại tư tưởng Locke đã
nói: “Muốn cho người ta thâu nhận những chủ nghĩa phi lý hoặc kỳ hoặc,
không có cách gì hay bằng bao phủ những lý thuyết ấy dưới một lớp danh
từ tối nghĩa, mù mờ hoặc không định rõ nghĩa”.
Tôi tin rằng người ta có thể bàn giải nhiều vấn đề mắc mỏ bằng một lối văn
thông thường, với những danh từ thông dụng, chỉ dùng đến những thuật ngữ
khi chúng ta không tìm thấy trong ngôn ngữ thông thường một danh từ
tương đương và nếu phải dùng đến một danh từ chuyên khoa ít ra chúng ta
phải định nghĩa nó cho rành mạch.
Đó cũng là quy tắc mà chúng tôi cố gắng theo khi soạn ra sách này. Chúng
tôi được sung sướng nếu tất cả bạn đọc đều có thể hiểu chúng tôi, dù là
người chỉ có sức học cơ sở sơ học.
Có cần gì phải nói không phải một khi gấp quyển sách này lại mà quý bạn
đọc đã trở thành một nhà tâm lý sành sỏi.
Việc dọ dẫm, khảo xét cá tính con người là một công việc tế nhị vì mỗi con
người là mỗi trường hợp riêng biệt.
Nhưng muốn giải đáp bài toán, ít ra cần phải biết những định lý căn bản.
Đây chỉ là một mớ tài liệu về khoa học của tâm hồn mà chúng tôi ước mong
rằng nó sẽ giúp cho những ai muốn tìm hiểu bài giải về cá tính con người.
CHƯƠNG II - NHỮNG PHƯƠNG PHÁP CỦA
TÂM LÝ HỌC
Đi xem một cuộc triển lãm hội hoạ, chúng ta nhận thấy các bức tranh trưng
bày chẳng những khác nhau về đề tài, về khuôn khổ mà còn khác nhau rất
nhiều về sắc độ. Bức thì màu sắc rực rỡ, bức lờ mờ, hoặc lộng lẫy, hoặc vui
hoặc buồn. Có bức thì đơn sắc, có bức lại gồm có nhiều màu sắc đối chọi
nhau một cách ngộ nghĩnh, có bức hình dáng chẳng khác gì một tấm thảm.
Tuy thế, tất cả những bức tranh ấy đều đặng tạo nên với một ít màu chính,
lúc nào cũng thế.
Cá tính của con người cũng giống như các bức tranh nói trên. Tuy nó hiện
ra dưới bao nhiêu sắc thái nhưng tựu trung nó cũng chỉ đặng tạo nên bởi
một ít bẩm màu căn bản. Chính sự phối hợp vô cùng phức tạp của những
bẩm chất này đã làm cho có sự khác nhau giữa loài người, làm thành bao
nhiêu hạng người.
Tâm lý học nhằm hai mục tiêu: Tìm xem đâu là những bẩm chất cốt yếu của
con người và sau khi đã định rõ giá trị mỗi bẩm chất ở một người, sẽ tiên
đoán thái độ, lối xử sự của người ấy.
Hai cá tính của con người:
Từ lâu rồi người ta đã ngờ ngợ rằng những yếu tố cấu thành cá tính con
người có thể phân làm hai loại. Người ta nhận thấy một cách mơ hồ rằng
trong thâm tâm của mỗi người đều có một cái gì vững vàng, suốt đời không
thay đổi và bao phủ trên cái cái phần ấy, như một cái mặt nạ, còn có một cá
tính khác, uyển chuyển hơn, biến hóa hơn, lại chịu ảnh hưởng của những
biến cố bên ngoài.
Một trong những thắng lợi của tâm lý học hiện giờ là đã chỉ định một cách
rõ rệt rằng trong mỗi người đều có hai cá tính.
Lúc chào đời chúng ta mang sẵn trong người cái cá tính thiên nhiên.
Những yếu tố của nó làm nòng cốt cho cái khí chất và cái trí tuệ của chúng
ta. Cái cá tính thứ nhì được gọi là cá tính tập thành bởi nó được kết thành
do những hiện tượng bên ngoài, do tất cả những biến cố của đời sống.
Đôi khi các nhà khoa học cũng gọi nó là “bản ngã căn bản”, “bản ngã ngoại
diện”. Nhưng chúng ta xin miễn dùng những tiếng “lóng” ấy và chỉ có thể
nói một cách giản dị là mỗi người khi sinh ra đời đều có nhận được một số
dụng cụ hoặc tốt hoặc xấu, đó là cá tính thiên nhiên. Dưới ảnh hưởng của
những hiện tượng đời sống, họ sẽ dùng những công cụ ấy để xây dựng cá
tính tập thành.
Bây giờ chúng ta hãy xem xét cái cá tính thiên nhiên ấy làm bằng những gì?
Lúc sinh ra đời, chúng ta đã nhận được những dụng cụ gì? Những bẩm chất
nào là những bẩm chất căn bản? Bao nhiêu câu hỏi mà bấy lâu nay người ta
không tìm ra lời giải.
Tuy thế, từ lúc nào cũng như lúc nào, con người luôn luôn muốn tìm hiểu lý
do những hành động của mình. Họ tự dò la, khảo sát, tự thú. Họ đã ghi chép
kết quả của những cuộc khảo sát này trong bao nhiêu sách vở: tiểu thuyết,
ký sự, khái luận, khảo cứu và thu thập rất nhiều tài liệu song chẳng đi đến
một kết quả khả quan nào. Không thể xếp thành loại mớ tài liệu ấy, cũng
không thể rút ra những quy tắc tổng quát. Ngay việc đặt để và định nghĩa
các danh từ, những tác giả cũng chưa đồng ý thay. Việc dùng “phương pháp
nội quan” để tìm hiểu tâm lý con người đã thất bại.
Vì sao? Bởi khi người ta chỉ trông qua một bức tranh thì không tài nào có
thể phân định những màu căn bản mà họa sĩ đã dùng để vẽ bức tranh ấy.
Hẳn thí dụ rằng loài người chưa biết thuật hội họa. Có thể nào qua một bức
tranh chúng ta phân tách nổi trong bức tranh ấy có bao nhiêu chất màu
xanh, và cách phân phối màu xanh ấy ra sao? Chúng ta có biết màu xanh là
màu căn bản chăng? Chắc là không, cho đến khi chúng ta tìm ra một
phương pháp có thể làm nổi bật ra một màu này hoặc một màu khác trong
bảy màu của cầu vòng. Lúc bấy giờ chúng ta mới rõ: chỉ có bảy màu chính,
bảy màu căn bản, cách phân phối những màu ấy ra sao, và chúng ta biết rõ
tất cả các sắc do sự pha trộn của hai hoặc nhiều màu trổ ra.
Cách nhà tâm lý học hiện giờ đã tìm ra một thứ “thuốc thử” na ná như thể
để phân tách rõ rệt những yếu tốt tạo thành cá tính con người. Thuốc thử đó
là bệnh điện.
Thuốc thử của bệnh điên:
Nếu khoa học tâm lý về con người ngày nay đã có một nền tảng vững
chắc đó là nhờ công trình của nhiều nhà chuyên về bệnh tinh thần như
Ernest Dupré chẳng hạn và nhất là nhờ những phát minh của hai nhà bác
học: Giáo sư F. Achille Delmas, một tâm y sĩ có tiếng và giáo sư Marcel
Boll, một nhà khoa học mà cũng là một nhà văn, một nhà phê bình nhiều
người biết đến.
Họ đáng cho chúng ta ghi ân. Chính họ là những người sáng tạo ra nền tâm
lý học tân thời. Chẳng những họ đã lập ra một lối phân loại rất hợp lý về
các bẩm chất căn bản của cá tính con người, ngoài ra họ cũng là những
người đầu tiên đã phân biệt có hai loại tâm lý học: Một thứ tâm lý học tịnh
khảo sát về cá tính thiên nhiên và các tính tập thành. Một thứ tâm lý học
động khảo sát về lối cư xử, thái độ của con người. Nói một cách khác, có
thứ tâm lý học chuyên khảo xét về các bộ phận của guồng máy lại có thứ
chuyên khảo về cách vận dụng của guồng máy ấy.
Chính tôi đã căn cứ trên lý thuyết của hai nhà khoa học ấy để xây dựng cái
nền tảng vững chắc của sách này, và trong bao nhiêu áp dụng mà tôi đã đề
cập trong sách này tôi chưa hề thấy lý thuyết ấy sai chạy ở một điểm nào.
Muốn hiểu rõ tại sao người ta có thể dùng người điên để phân tích tâm trí
của người có đủ lý trí, chúng ta cần hiểu qua về những chứng bệnh tinh thần
và cách xếp loại của nó.
Xưa kia người ta không biết gì về bệnh điên cả. Thấy người nào nói xàm
nói nhảm hoặc có những hành động kỳ dị, người ta cho rằng họ điên hoặc
khùng, không hơn không kém. Tuy rằng người ta đã nhận thấy có nhiều
chứng cuồng tâm, loạn óc song không ai buồn nghiên cứu những bệnh ấy.
Cho đến cuối thế kỷ XVIII người ta vẫn còn xem những người điên như
loài ác thú, người ta cùm xích họ lại, họ sống một đời sống đáng thương
hại.
Đến đầu thế kỷ XIX, mới có một nhà y sĩ từ tâm biết nghiêng mình xuống
số phận hẩm hiu của những người bạc phúc ấy. Đó là ông Pinel. Ông đã kéo
họ ra khỏi chốn cực hình, đã bắt đầu nghiên cứu về họ một cách hợp lý.
Suốt thế kỷ gần đây, nhiều người khác đã tiếp tục việc khảo cứu này và
ngày ngay, khoa tâm y học tức là khoa học nghiên cứu về các chứng bệnh
tinh thần đã tiến bộ một cách khả quan. Những công cuộc nghiên cứu liên
tục này đã giúp người ta tìm ra một lối xếp loại rất quan trọng: Phân chia
các chứng bệnh tinh thần ra làm hai nhóm riêng biệt: Những bệnh do
thương tích gây ra và những bệnh do thể tạng tức là do sự cấu thành
của thể chất tạo nên.
Những bệnh điên do thương tích gây ra:
Những bệnh điên do thương tích có những đặc điểm cốt yếu sau đây:
Con bệnh luôn có những vết thương trong óc, người ta tìm thấy những vết
thương này khi mổ thây người chết để khám nghiệm.
Có thể đây là một chứng bệnh tập thành chứ không phải do thiên bẩm, vì
những vết thương này phát ra sau khi con người đã sinh ra hoặc nếu sớm
hơn, thì cũng là khi bào thai đã tượng hình.
Tùy theo vết thương có tính chất vĩnh viễn hay tạm bợ, người ta sẽ chia
những bệnh do thương tích này làm hai loại:
Loại đầu gồm những chứng mất trí, ngu đần, động kinh, bất toại, điên
cuồng, lẩm cẩm vì già nua. Loại sau gồm những bệnh điên phát sinh bởi
một vết thương hoặc một chất độc (rượu, thuốc phiện v.v…).
Những bệnh này thường đều bất trị, trừ những bệnh thuộc loại thứ hai và ở
trường hợp mà chất độc chỉ gây những thương tích nhẹ.
Những bệnh điên do thể tạng gây ra:
Những bệnh tinh thần thuộc nhóm thứ hai, tức là những bệnh điên do
thể tạng sinh ra, mới đáng cho người muốn nghiên cứu về tâm lý học quan
tâm hơn.
Những bệnh thuộc nhóm này có hai thuộc tính:
Nó do thiên bẩm. Mầm gốc những chứng bệnh ấy đã sẵn có trong người
con bệnh từ lúc họ mới lọt lòng. Rất có thể và thường khi như thế, bệnh ấy
chưa phát triển đầy đủ lúc con bệnh còn thơ ấu, bởi sự phát triển ấy có thể
hoặc sớm hoặc muộn, tuy nhiên người ta luôn luôn nhận thấy điều này là
những bệnh ấy do thể tạng của con bệnh tức là do cơ cấu thể chất mà họ có
sẵn từ lúc họ ra chào đời. (Giáo sư F. Achille Delmas định nghĩa cơ cấu tâm
bệnh như thế này: Đó là một nhóm xu hướng tâm thần nhất định, thuộc cá
tính thiên nhiên của con bệnh, phát triển lúc người ấy mới sinh ra, và suốt
đời họ, bộc lộ bởi những phản ứng mạnh hay yếu… nó có thể đi đến những
chứng bệnh thần kinh tuần hoàn, thuyên giảm trong chốc lát hoặc tiệm tiến
(nghĩa là bệnh điên phát triển trong một thời kỳ gần hay xa hoặc tuần tự mà
tiến). – Bài phúc trình về tâm bệnh học ở hội nghị Limoges, từ ngày 25 đến
30 tháng 7 năm 1932.
(Còn vấn đề: Bằng cách nào và do đâu bệnh điên có thể phát sinh từ một cư
cấu tâm bệnh thì người ta chỉ hiểu lờ mờ. Trong bản phúc trình nói trên,
giáo sư Delmas chỉ thử tìm cách giải).
Những con bệnh này không mang vết thương tích nào trong óc cả. Khi
người ta khám tử thi một người bệnh điên thuộc nhóm này, người ta thấy óc
họ chẳng khác gì óc một người lành mạnh. Rất có thể sự giống nhau ấy chỉ
có ở mặt ngoài, còn nếu có chỗ khác nhau thì những phương tiện tìm tòi
hiện giờ cũng chưa cho phép chúng ta nhận thấy những đặc điểm của các
khối óc bệnh hoạn ấy.
Điều quan trọng cũng là điều cốt yếu trong việc nghiên cứu của chúng ta là
những chứng bệnh ấy chỉ là sự lệch lạc, sự phát triển quá độ hoặc sự khuyết
kém những yếu tố căn bản tạo thành cá tính của một người lành mạnh.
Ở người lành mạnh, những yếu tố ấy pha trộn, phối hợp lẫn nhau một cách
điều hòa khó lòng cho chúng ta phân biệt.
Ở những con bệnh tinh thần trái lại tính cách bất thường của những yếu tố
ấy làm cho nó nổi bật lên trên cá tính, nhờ đó chúng ta rất dễ thấy.
Vì thế chúng ta có thể dùng những bệnh “điên” thuộc nhóm sau này như
một thứ “thuốc thử” mà chúng tôi đã nói ở trước. Một khi có thể phân biệt
và xếp những chứng bệnh ấy thành loại thì chúng ta cũng đã biết rõ có bao
nhiêu bẩm chất căn bản tạo thành cá tính con người. Công trình nghiên cứu
của hai ông F. A Delmas và M. Boll là đã xác định lối phân loại ấy.
CHƯƠNG III - NHỮNG CHỨNG BỆNH TINH
THẦN DO THỂ TẠNG GÂY RA
Có thể chia những bệnh này làm ra năm loại. Dưới đây chúng ta sẽ nghiên
cứu riêng từng loại.
Chứng cuồng vọng (paranoia):
Loại này là do sự cuồng vọng của óc đòi hỏi gây ra, y học gọi nó là
bệnh paranoia, nhưng xét theo nguồn gốc thì danh từ này đặt chưa thật xác
nghĩa, bởi theo tiếng Hy Lạp thì paranoia có nghĩa là “lý luận lạc đề”.
Chúng ta cứ gọi là bệnh “cuồng vọng” cho dễ hiểu.
Người bị cuồng vọng luôn luôn đòi hỏi hơn những quyền lợi hoặc quyền
hạn mà họ có. Họ tự ban cho mình những tài sản phi thường, tự đặt cho
mình những tước vị không thể tưởng tượng. Họ mong chờ những gia tài
kếch sù, tự xưng là vua là hoàng đế đôi khi là Thượng Đế. (Ông N. P. Thiên
vương nào đó mà vừa rồi báo chí có nói đến, đã tự gán cho mình ba cấp
bằng thạc sĩ và tự xưng là hoàng đế Việt Nam, rõ là một con bệnh cuồng
vọng (1956).
Và đương nhiên họ không bao giờ đoạt được những gì mà họ tưởng rằng họ
phải có, hoặc có quyển hưởng, nên họ đâm ra bất mãn, tưởng rằng mình bị
ngược đãi hoặc bị những kẻ thù tưởng tượng ám hại. Sự cuồng loạn của tinh
thần bị ngược đãi là kết quả đương nhiên của bệnh cuồng vọng.
Những con bệnh cuồng vọng này cũng như những con bệnh sẽ được kể
dưới đây, mới xét ra chúng ta không thấy vẻ gì tỏ ra là người cuồng trí,
nhưng họ có thể trở nên nguy hiểm. Bởi như đã nói trước, họ cho rằng nỗi
khổ tâm, những thất vọng của họ là do những kẻ thù địch vô danh gây ra, và
một ngày kia họ có thể nhận thấy kẻ thù địch ấy ở một cá nhân hoặc ở
những người nà...
 





