BẢN TIN THƯ VIỆN

Sách như một cánh cổng diệu kỳ đưa ta đến những chân trời của lý tưởng, khát vọng và bình yên. Cuộc đời ta thay đổi theo hai cách: Qua những người ta gặp và qua những cuốn sách ta đọc. Đọc sách là nếp sống, là một nét đẹp văn hóa và là nguồn sống bất diệt. Việc đọc cũng giống như việc học. Có đọc, có học thì mới có nhân. Thói quen đọc sách chỉ được hình thành và duy trì khi chữ tâm và sách hòa quện làm một. Người đọc sách là người biết yêu thương bản thân mình và là người biết trân trọng cuộc sống. Việc đọc một cuốn sách có đem lại cho bạn lợi ích hay không, phụ thuộc vào thái độ và tâm thế của bạn khi đọc.

HỌC LIỆU ĐIỆN TỬ

CẨM NANG KIẾN THỨC THÚ VỊ

VIDEO GIỚI THIỆU SÁCH CỦA THƯ VIỆN

VĂN HỌC - CẢM NHẬN TÁC PHẨM

THƯ VIỆN SỐ

Ảnh ngẫu nhiên

A273.jpg Z6092185087755_34a5fbcae2e80bcb78ce2c88375c8c47.jpg Z5905520939947_cb35f10fe7eb60fcb62518485d8ee0dc.jpg Z5905520905513_dd23d4919714cc79e802d044b627f9f1.jpg Z5905520921007_489b9220f295c7e969d77a8da3861804.jpg CangBien.jpg Bandovietnam.jpg DBSCL.jpg

GỐC NGHỆ THUẬT

KIẾN THỨC LỊCH SỬ - TỰ HÀO VIỆT NAM

Thống kê

  • truy cập   (chi tiết)
    trong hôm nay
  • lượt xem
    trong hôm nay
  • thành viên
  • Thành viên trực tuyến

    1 khách và 0 thành viên

    Hồ Chí Minh một con người, một dân tộc, một thời đại, một sự nghiệp

    biet-nguoi

    Wait
    • Begin_button
    • Prev_button
    • Play_button
    • Stop_button
    • Next_button
    • End_button
    • 0 / 0
    • Loading_status
    Nhấn vào đây để tải về
    Báo tài liệu có sai sót
    Nhắn tin cho tác giả
    (Tài liệu chưa được thẩm định)
    Nguồn:
    Người gửi: Lê Thị Minh Hiền
    Ngày gửi: 12h:33' 05-03-2024
    Dung lượng: 1.4 MB
    Số lượt tải: 7
    Số lượt thích: 0 người
    Thông tin ebook
    Tên sách : Biết Người
    Nguyên tác : La Connaissanee Des Hommes
    Tác giả : Philippe Girardet
    Dịch giả : Phạm Cao Tùng
    Thể loại : Tâm lý học
    Năm xuất bản : 1956
    ---------------------------------Đánh máy : ldlvinhquang
    Chuyển sang ebook (TVE) : santseiya
    Ngày hoàn thành : 26/10/2008
    Nơi hoàn thành : Hà Nội
    Ebook miễn phí tại : www.Sachvui.Com
    Mục Lục

    LỜI NÓI ĐẦU CỦA DỊCH GIẢ
    PHẦN MỘT: CÁ TÍNH CỦA CON NGƯỜI

    CHƯƠNG I - NHỮNG LỢI ÍCH CỦA TÂM LÝ
    HỌC
    CHƯƠNG II - NHỮNG PHƯƠNG PHÁP CỦA
    TÂM LÝ HỌC
    CHƯƠNG III - NHỮNG CHỨNG BỆNH TINH
    THẦN DO THỂ TẠNG GÂY RA
    CHƯƠNG IV
    CHƯƠNG V - CÁ TÍNH TẬP THÀNH
    CHƯƠNG VI - TÂM TRÍ
    CHƯƠNG VII - TÂM TÍNH
    CHƯƠNG VIII - CÁI PHƯƠNG TRÌNH CỦA
    CÁ TÍNH
    PHẦN HAI: TÂM LÝ ĐỘNG
    CHƯƠNG I - GUỒNG MÁY CỦA TÂM NÃO
    CHƯƠNG II
    CHƯƠNG III
    CHƯƠNG IV - Ý CHÍ
    PHẦN BA: NHỮNG ÁP DỤNG CỦA TÂM LÝ
    HỌC
    CHƯƠNG I - BẠN BÈ VÀ GIA ĐÌNH
    CHƯƠNG II - HÔN NHÂN VÀ HỢP ĐOÀN
    CHƯƠNG III - ÁI TÌNH VÀ PHỤ NỮ
    CHƯƠNG IV - TÂM LÝ HỌC VÀ VĂN
    CHƯƠNG

    CHƯƠNG V - TÂM LÝ HỌC VÀ NGHỆ
    THUẬT BÁN HÀNG
    CHƯƠNG VI - VẤN ĐỀ TUYỂN TRẠCH
    CHƯƠNG VII - BÀN VỀ CÁCH CHỌN
    NHỮNG NGƯỜI GIÚP VIỆC
    CHƯƠNG VIII - BÀN VỀ LỐI KHẢO XÉT
    NGƯỜI CÁCH TRỰC TIẾP
    CHƯƠNG IX - TÂM LÝ HỌC ÁP DỤNG VÀO
    VIỆC CẢI TẠO BẢN THÂN
    CHƯƠNG X - MÊ TÍN, TẬP TỤC VÀ TÍN
    NGƯỠNG
    CHƯƠNG XI - NHỮNG THỨ THUỐC ĐỘC
    GIẾT NGƯỜI
    CHƯƠNG XII - CẦN LAO, TỰ DO VÀ HẠNH
    PHÚC
     

    LỜI NÓI ĐẦU CỦA DỊCH GIẢ
     

    Tâm lý học là một khoa học người ta thường nhắc nhở đến nhiều nhất, song
    cũng là một môn khoa học mà ít người hiểu nó nhất, lại càng ít người biết
    áp dụng một cách hữu ích trong đời sống thực tiễn.


    Trong rạp hát, sau khi anh kép cao hứng xổ một tràng lý luận dài dòng và
    kết thúc bằng một câu đại để: “Tiền! Tiền! Than ôi đời này chỉ có tiền, chỉ
    vì tiền, tiền là tất cả. Tiền! Tiền! Vì mi mà người ta đã phạm bao nhiêu tội
    ác”. Một tràng pháo tay phát lên từ những hàng ghế cuối cùng, ông khán giả
    ngồi kề tôi cũng gật đầu nói với người bạn: “Đúng là tâm lý hết sức!”.


    Cô Hai bán hàng đọc xong một quyển “tâm lý xã hội ái tình, tiểu thuyết”
    trong đó kể lại một câu chuyện cũ rích như quả địa cầu đại khái: Chàng yêu
    nàng, dan díu với nàng, nhưng sau đó nghe lời cha mẹ bỏ rời nàng để cưới
    một cô gái khác có bề thế hơn, bình phẩm với cô bạn đồng sự: “Thật đúng
    là tâm lý người đời!”.


    Đó, đại để phần đông người ta chỉ hiểu tâm lý học qua một vài điểm tâm lý
    sơ đẳng như thế. Ngoài ra họ không biết rõ tâm lý học nghiên cứu những gì,
    những phương pháp hoặc công dụng của tâm lý học ra sao cả.


    Chúng ta đừng nghĩ rằng những người văn hóa khá cao, những người đã
    từng theo học lớp triết học ban tú tài chẳng hạn có một ý niệm rõ rệt hơn về
    tâm lý học. Vâng, trong những lớp triết học họ có học qua môn tâm lý học
    thật, các giáo sư giảng giải cho họ biết những sinh hoạt của tình cảm, của trí
    thức, có định nghĩa cho họ hiểu thế nào là ý thức, thế nào là vô thức. Họ
    cũng phân loại các khuynh hướng, các cảm giác, các ảnh tượng. Họ cũng
    biết phân biệt thuyết chủ nghiệm khác thuyết chủ lý ra sao. Nhưng sau mấy
    năm đèn sách, mớ trí thức họ đã thâu thập về tâm lý học vẫn lẻ tẻ, rời rạc,
    có thể thỏa mãn óc tò mò của trí thức nhiều hơn là giúp ích cho họ. Vì thế
    không mấy người biết nhận định một cách rõ rệt, tổng quát về cái “khoa học

    của đời sống” ấy và khi bước ra thực tế không mấy người biết áp dụng tâm
    lý học một cách có ích lợi.


    Về tâm lý học, ngoài các phần tâm lý học thuần túy mà người ta cũng gọi là
    tâm lý học ở nhà trường, còn phần tâm lý học thực tiễn, cái phần tâm lý học
    “có thể dùng vào một công việc gì” mà các nhà tâm lý học hiện giờ, nhất là
    những nhà tâm lý học Anh–Mỹ vốn vẫn có óc thực tiễn, đặc biệt chú trọng
    và đang hướng những tìm tòi, khảo cứu của họ vào đó.


    Người ta có thể áp dụng tâm lý học vào các ngành đại để:


    Về y học: Khoa phân tâm thần học, tâm lý học.


    Về chức nghiệp: Hướng dẫn trong việc chọn nghề, tuyển trạch người làm,
    tổ chức công việc làm.


    Về giáo dục: Hướng dẫn việc học, tuyển trạch, tâm lý nhi đồng, khoa sư
    phạm.


    Về thương mại: Bán hàng, quảng cáo.


    “Và ngay trong đời sống hàng ngày, người ta luôn luôn có dịp nhờ đến tâm
    lý học để nhận định rõ rệt cá tính của người mình giao tiếp, để hiểu rõ dục
    vọng, sở thích của họ, để biết họ muốn gì, suy nghĩ những gì và cảm tưởng
    họ ra sao. Người bán hàng cần biết gợi sự ham thích của khách hàng để họ
    mua hàng. Nhà y sĩ cần biết phán đoán về người bệnh. Viên sĩ quan cần
    hiểu những binh sĩ dưới tay mình. Nhà văn cần hiểu tâm lý các nhân vật
    mình tạo ra. Vợ chồng cần hiểu nhau. Cha mẹ cần hiểu con cái.


    Đó âu cũng là một khuyết điểm lớn của nền giáo dục hiện tại, chỉ quan tâm
    đến chữ “Trí” mà ít nghĩ đến chữ “Hành”, chỉ lo dạy cho bạn trẻ “biết” thật
    nhiều điều mà không dạy cho chúng “biết hành động” hoặc ít ra vạch cho
    chúng “biết đường lối để hành động”. Các giáo sư thường nhồi nhét vào óc
    các sinh viên mớ hiểu biết hỗn tạp với những lý thuyết, những giả thuyết,
    những tài liệu, những thí nghiệm mà các nhà tâm lý học xưa nay đã thâu
    thập. Có mấy người đã biết vạch cho bạn trẻ rõ: Bằng cách nào người ta có
    thể dùng tâm lý học để phát triển cá tính của mình, có thể dùng kỹ thuật tâm

    lý học nào để làm cho mình thêm sức hăng hái hoạt động hoặc thêm sức
    chịu đựng, dùng tâm lý học cách nào để quan sát, phân tách và nhận xét tâm
    tính của những người mình gần gũi?


    Vì thế, đa số các bạn trẻ (kể luôn những bạn trẻ có học) rất ngỡ ngàng khi
    bước ra đời thực tế và họ thường tỏ ra bất lực khi phải hành động. Mớ kiến
    thức của họ chỉ là những món đồ trang hoàng chứ không phải là những
    dụng cụ có thể giúp họ xây dựng một đời sống tươi đẹp cho riêng cá nhân
    họ chứ đừng nói đến việc thực hiện những công cuộc gì lớn lao có thể giúp
    ích cho xứ sở, cho nhân loại.


    Quyển “La Connaissanee Des Hommes” của Philippe Girardet mà chúng
    tôi đã dịch và trình diện sau đây là một quyển sách thực tiễn. Tác giả vốn là
    một nhà văn nhưng đã từng lăn lộn trong giới doanh nghiệp, gần gũi với
    thực tế nên những sách ông soạn phần nhiều đều có tính cách thực tiễn. Dựa
    vào một lý thuyết về cá tính con người của hai giáo sư F. Achille Delmas và
    Marcel Boll, ông thử áp dụng thuyết ấy vào đời sống thực tiễn và theo lời
    ông thú nhận: “Không lúc nào ông thấy nó sai”. Đặc biệt nhất là ông đã
    khéo trình bày một vấn đề trừu tượng bằng một cách rất “sống”, ông đã
    khéo giảng giải một khoa học khúc chiết một cách rất sáng sủa.


    Riêng chúng tôi, cũng nhờ may mắn có dịp đọc qua quyển “La Personnalité
    Humaine” của F. Achille  và M. Boll mà thấy thích thú nghiên cứu về tâm
    lý học và cũng đặng hiểu nó một cách rõ ràng hơn. Chúng tôi cũng đã thử
    áp dụng tâm lý học một cách ích lợi trong nhiều ngành mà chúng tôi đã có
    dịp trình bày với độc giả hai quyển “Nghề Bán Hàng” và “Tâm Lý Ái
    Tình”. Cũng từ lâu rồi, chúng tôi có ý định giới thiệu lý thuyết của hai giáo
    sư ấy với độc giả trong nước nhưng chưa biết phải trình bày thế nào cho dễ
    hiểu vì nếu dịch thẳng quyển “La Personnalité Humaine” của F. Achille  và
    M. Boll ra Việt văn thì chắc không bổ ích bao nhiêu vì hai nhà tâm lý học
    này trình bày thuyết của họ theo lối các nhà bác học nghĩa là đứng trên tầm
    hiểu biết của họ mà giải thích, bất chấp trình độ hiểu biết của phần đông
    độc giả, thì học chăng chỉ có ích cho một số hiếm người đã từng gần gũi với
    nhiều loại sách tâm lý. Tình cờ chúng tôi có dịp đọc quyển “La
    Connaissanee Des Hommes” của Philippe Girardet trong đó tác giả cũng có
    ý định như chúng tôi là thử giải thích thuyết ấy cho đa số người đọc có thể

    hiểu, lẽ dĩ nhiên là cho độc giả Pháp, và thử áp dụng thuyết ấy vào đời sống
    thực tiễn.


    Ông Philippe Girardet đã viết một quyển sách chúng tôi định viết. Không
    phải mất thì giờ để làm lại công việc đã có người khác làm và làm rất hay,
    chúng tôi thấy chỉ việc xin phép tác giả cho dịch sách ấy ra Việt văn là có
    thể thực hiện ý định của mình. Tác giả đã vui lòng cho phép và hôm nay
    quý độc giả có dịp đọc quyển “Biết Người”, tâm lý học áp dụng vào đời
    sống thực tiễn, sớm hơn chúng tôi đã tiên liệu.


    Sở dĩ chúng tôi dịch quyển “Biết Người” vì muốn giới thiệu với độc giả
    một khoa học rất hữu ích: Tâm lý học, mà nhất là vì đó là một quyển sách
    phổ thông kho học đã đặng viết bằng một lối văn hết sức giản dị, dễ hiểu.
    Đó là một thí nghiệm chứng tỏ người ta có thể giảng giải những khoa học
    khúc chiết bằng một lối văn thông thường cho mọi người có thể đọc và
    hiểu. Tác giả có nói rõ ý định của mình ở chương đầu sau đây. Riêng về
    phần tác giả, chúng tôi nhận thấy ông đã đạt mục đích một cách rực rỡ.
    Những ai từng có dịp đọc qua quyển “La Personnalité Humaine” của F.
    Achille  và M. Boll và quyển“La Connaissanee Des Hommes” của Philippe
    Girardet ắt cũng phải đồng ý với chúng tôi rằng chính ông sau này đã giúp
    chúng ta hiểu rõ lý thuyết của Delmas và M. Boll còn hơn hai người cha đẻ
    ra thuyết ấy.


    Nhưng về phần dịch giả, chúng tôi có đạt được mục đích ấy chăng? Điều đó
    cũng còn tùy sự rộng lượng của độc giả. Khoa tâm lý học đối với chúng ta
    còn mới quá, sách về tâm lý chưa có bao nhiêu, chúng ta lại thiếu cả những
    danh từ về tâm lý học. Vì thế trong sách này mỗi khi phải dùng đến một
    danh từ hơi chuyên môn hoặc chưa được thống nhất chúng tôi có chua thêm
    tiếng Pháp để độc giả có dịp đối chiếu và ở phần sau sách chúng tôi có làm
    một tự vựng giải thích các danh từ ấy.


    Tin rằng một khi đã hiểu qua những khó khăn ấy, quý độc giả chẳng những
    sẽ không “quá nghiêm khắc” đối với chúng tôi mà còn sẵn lòng chỉ bảo cho
    những khuyết điểm và chúng tôi xin có lời thành thật cảm ơn trước.
    Dịch giả cẩn chí


    Tháng 5/1956
     

    PHẦN MỘT: CÁ TÍNH CỦA CON NGƯỜI
     

    CHƯƠNG I - NHỮNG LỢI ÍCH CỦA TÂM LÝ
    HỌC
     

    Một điều hơi lạ, trong việc đào luyện con người, người ta không mấy quan
    tâm đến môn tâm lý học. Trong chương trình học vấn, người ta không đếm
    xỉa đến nó hoặc chỉ dạy phớt qua. Có lẽ người ta nghĩ rằng những lớp triết
    học mà một số ít sinh viên ban trung học có dịp theo đuổi, là những hành lý
    đầy đủ để họ xông pha trên trường đời. Ngoài ra người ta phó thác họ cho
    đời chỉ dạy.


    Theo ý kiến một vài nhà giáo dục, chúng ta nhồi nhét vào trí óc của trẻ em
    quá nhiều tri thức. Chúng ta muốn nhào nặn khối óc của chúng trở thành
    một bộ bách khoa toàn thư “sống”, nhưng chúng ta quên dạy chúng cái
    khoa học cốt yếu, quên trao cho chúng cái chìa khóa có thể mở các cánh
    cửa: tâm lý học.


    Ngoại trừ bị giam hãm suốt đời trong một phòng thí nghiệm hoặc trong một
    xưởng máy, chúng ta luôn luôn cần nhờ đến người khác để áp dụng những
    điều hiểu biết của mình hoặc đối phó với sự thờ ơ, ghét vơ của họ.


    Nên chúng ta dốt đặc về tâm lý học, nếu chúng ta không hiểu về những định
    luật bất dịch chi phối những thị dục của con người, nếu chúng ta không
    đặng dẫn dắt bởi những chân lý đã từng thí nghiệm, thì với hiểu biết của
    chúng ta rất có thể đưa chúng ta tới thất bại. Chúng ta có thể nói không sợ
    lầm rằng: sự hiểu biết của mọi người có đắc dụng chăng là tùy thuộc sự
    thấu đáo về tâm lý của họ.



     


    Kiến nghiệm và khoa học:





    Đành rằng, kinh nghiệm của sự đời cũng có thể giúp chúng ta nhận xét
    để hiểu biết người. Thường gần gũi với người đồng loại, chúng ta có thể
    phán đoán về họ, nếu chúng ta có chút ít khả năng về việc đánh giá con
    người.


    Nhưng chúng ta đừng lầm lộn việc áp dụng thực tiễn một khoa học với
    khảo cứu những nguyên tắc của nó. Cái kinh nghiệm chúng ta thâu rút khi
    chung đụng với đời có thể hợp thành một phương pháp kinh nghiệm.
    (Phương pháp kinh nghiệm là phương pháp chỉ được căn cứ vào những
    kinh nghiệm, không chịu tìm hiểu nguyên do, khác với phương pháp thực
    nghiệm căn cứ trên những thí nghiệm khoa học. Thí dụ Đông y dựa vào
    phương pháp kinh nghiệm và Tây y sau khi trải qua giai đoạn kinh nghiệm,
    đã tiến đến giai đoạn thực nghiệm). Dù không có ý khinh rẻ phương pháp
    kinh nghiệm, chúng ta cũng phải nhận thấy nó có lắm bất tiện. Muốn dùng
    đặng nó chúng ta phải trả một giá khá đắt: phải trải qua những lỗi lầm, đau
    thương, phải mất bao nhiêu thời giờ, bao nhiêu cố gắng. Đó là chưa kể
    muốn áp dụng đặng những kinh nghiệm ấy chúng ta phải có đôi chút khả
    năng thiên nhiên; trái lại, phương pháp thực nghiệm căn cứ trên những nền
    tảng khoa học có thể giúp ích cho một số đông người có những khả năng
    tầm thường.


    Ở ngoài đời, chúng ta đã từng thấy có người văn hóa rất kém (mà chúng tôi
    đã đặt cho họ cái tên hơi bất công là “những người sơ đẳng”) đã chiếm đặng
    những địa vị khả quan trong xã hội. Có nên vì đó mà kết luận rằng văn hóa
    không cần thiết để thành công?


    Có lắm tay ngang thiếu học chuyên môn những cũng cạy cục rất tài để có
    thể ráp nỗi một bộ máy vô tuyến truyền thanh rắc rối. Tuy không biết qua
    về lý thuyết nhưng nhờ có mó tay vào thực hành nên họ cũng có thể bàn về
    “tần số”, về “cuộn xen”, về “máy phát sóng”… một cách khá rành rẽ. Có
    phải vì thế mà chúng ta nên cho rằng muốn học về vô tuyến điện không cần
    phải học qua phần lý thuyết? Chắc chắn là không ai sẽ nghĩ như thế, vì ai ai
    cũng thấy rõ, một tay ngang thiếu cơ sở khoa học mà ráp nổi bộ máy truyền
    thanh ấy, ắt đã mất bao nhiêu thì giờ, bao nhiêu dọ dẫm và bao nhiêu nhẫn
    nại mới có thể đạt đến đích, đó là chưa kể hắn phải có nhiều tài quan sát.
    Một kỹ sư điện học, trái lại chỉ cần vài giờ suy nghĩ là có thể ráp xong máy
    ấy nhờ áp dụng những hiểu biết về lý thuyết mà ông ta đã thu thập được khi

    học ở trường.



     


    Biết người:



    Bí quyết của thành công, trong đời sống cũng như doanh nghiệp gồm
    hai chữ “Biết Người”. Ở đây chúng ta không nên hiểu hai chữ “thành công”
    với cái nghĩa hẹp hòi là thâu đoạt được nhiều tiền của, nhiều danh vọng, mà
    nên hiểu rộng là sự tiến bộ về tri thức cũng như về vật chất, là sự hoàn
    thành một cách hợp lý cái nhiệm vụ mà đời sống đã vạch cho mình.


    Một người bán hàng, một thương gia dù sẵn có nhiều khả năng thể chất hoạt
    động tâm thần cũng chưa ắt đã dễ thành công nếu họ thiếu đức mẫn tiệp,
    thiếu hiểu biết về tâm lý học để có thể gợi sự thèm thuồng của khách hàng.

    Một kỹ sư khôi nguyên ở trường bách khoa xuất thân rất có thể thất bại
    trong những công trình của mình, nếu họ không biết gì về cá tính của những
    nhân viên làm việc dưới tay họ.


    Một doanh nghiệp có thể suy sụp dù rằng được điều khiển bởi một viên
    giám đốc có tài, nếu ông ta lầm lỗi trong việc tuyển chọn những nhân viên
    cần thiết giúp ông ta làm tròn nhiệm vụ.


    Một tay cuộc chê đi chào mời khách hàng bảo hiểm nhân mạng, dù rằng có
    biết rõ sự ích lợi về mặt xã hội của việc bảo hiểm, cũng chưa ắt đã có thể
    khuyến dụ khách hàng ký hợp đồng nếu hắn không biết cách trình bày
    những lý lẽ một cách khéo léo để cho khách hàng gật đầu.


    Một người có thể có tài viết văn, nhưng làm báo lại rất dở nếu họ không
    hiểu tâm lý quần chúng. Một họa sĩ dù có sẵn thiên tư cũng cần thấu đáo cá
    tính của người mẫu mới mong đạt được sắc diện của người ấy nổi. Một nghị
    sĩ phải thấu hiểu cử tri của mình. Một trạng sư: những thân chủ của mình.
    Một y sĩ: những bệnh nhân của mình. Một sĩ quan: những quân sĩ của mình.
    Một vị thuyền trưởng: đoàn thủy thủ của mình. Chỉ có nhân viên thu thuế
    là… không cần hiểu những tên dân đen.


    Trong đời sống thực tiễn, những cuộc xào xáo trong gia đình, những xích

    mích giữa bạn bè, những bất mãn do người giúp việc bất tín gây ra, những
    thất vọng về đường tình duyên thường có nguyên do bởi sự dốt nát về tâm
    lý học.


    Như chúng ta đã thấy, bất luận trong ngành sinh hoạt nào, chúng ta cũng
    cần biết rõ cá tính của những người mà chúng ta có liên lạc gần hay xa.


    Nghiên cứu về tâm lý học chẳng những giúp ích chúng ta rất nhiều trong
    phạm vi chức nghiệp, ngoài ra nó còn giúp chúng ta thâu đoạt nhiều kết quả
    thiết thực trên đường giao thiệp.


    Ngày nay, tâm lý học là một khoa học có thể truyền dạy cũng như bao nhiêu
    khoa học khác. Với một bộ óc thông minh trung bình người ta cũng có thể
    học và hiểu nó. Nó cũng không bắt buộc người học phải có số vốn về triết
    học. Nó căn cứ trên những yếu chỉ và những nguyên tắc có lẽ còn giản dị
    hơn môn hình học hoặc vật lý học. Người đã có một cơ sở tâm lý học sẽ dễ
    mà rút tỉa những cái hay trong mớ kinh nghiệm mà đời sống sẽ đưa đến cho
    họ sau này. Họ sẽ dễ thông cảm, mau hiểu người đồng loại hơn cũng như
    viên kỹ sư điện học dễ mò ra những bí quyết của vô tuyến điện hơn một tay
    ngang chỉ dựa vào mớ kinh nghiệm.



     


    Lối văn “triết học”:



    Nói cho đúng, việc đọc sách khảo cứu về tâm lý học thường dễ làm cho
    người dù hiếu học đến đâu cũng đâm ra chán nản. Nản vì “lối văn triết học”
    mà phần nhiều tác giả sách này quen dùng, lối văn mà A. Abalat đã chỉ
    trích gắt gao trong mấy tác phẩm bàn về nghệ thuật viết văn. Kể ra “lối văn
    triết học” này có thể so sánh với “lối văn sở cẩm” mà André Thérive đã
    từng chế giễu. Và có khi nó còn tệ hơn, vì trong lối văn sau này, những
    danh từ dùng sai nghĩa song người ta còn có thể đoán được chứ đọc “lối văn
    triết học” thì chẳng khác gì đọc sấm ký, bởi tác giả thường khéo che đậy
    một cái trống không to tướng dưới một lớp danh từ khúc mắc có vẻ khoa
    học.


    Đành rằng văn của Bergson (Nhà triết học Ly Lạp) cũng tối mò song ít ra

    chúng ta còn thưởng thức đặng cách bố trí chặt chẽ những ức thuyết rất tân
    kỳ của ông. Dù vậy, tôi cũng mạn phép trách ông điều này là ông đã không
    biết làm cho một người chỉ có óc thông minh trung bình hiểu đặng tư tưởng
    ông. Muốn hiểu ông, phải đọc qua những sách diễn giải tư tưởng ông.

    Tôi vốn nghi kỵ những lối văn chuyên môn dành riêng cho từng khoa học.
    Vì người ta rất dễ lạm dụng nó để lòe đời và như vậy người ta chỉ cần học
    qua một mớ thuật ngữ là có thể bàn đến nhiều vấn đề vô lý dưới cái vẻ sành
    sỏi.


    Anatole France nói rất đúng: “Sự dốt nát sở dĩ có là do trong ngôn ngữ
    chúng ta còn lắm danh từ nghĩa không được đích xác”.


    Trong quyển “Luận Về Trí Năng Con người” nhà đại tư tưởng Locke đã
    nói: “Muốn cho người ta thâu nhận những chủ nghĩa phi lý hoặc kỳ hoặc,
    không có cách gì hay bằng bao phủ những lý thuyết ấy dưới một lớp danh
    từ tối nghĩa, mù mờ hoặc không định rõ nghĩa”.


    Tôi tin rằng người ta có thể bàn giải nhiều vấn đề mắc mỏ bằng một lối văn
    thông thường, với những danh từ thông dụng, chỉ dùng đến những thuật ngữ
    khi chúng ta không tìm thấy trong ngôn ngữ thông thường một danh từ
    tương đương và nếu phải dùng đến một danh từ chuyên khoa ít ra chúng ta
    phải định nghĩa nó cho rành mạch.


    Đó cũng là quy tắc mà chúng tôi cố gắng theo khi soạn ra sách này. Chúng
    tôi được sung sướng nếu tất cả bạn đọc đều có thể hiểu chúng tôi, dù là
    người chỉ có sức học cơ sở sơ học.


    Có cần gì phải nói không phải một khi gấp quyển sách này lại mà quý bạn
    đọc đã trở thành một nhà tâm lý sành sỏi.


    Việc dọ dẫm, khảo xét cá tính con người là một công việc tế nhị vì mỗi con
    người là mỗi trường hợp riêng biệt.


    Nhưng muốn giải đáp bài toán, ít ra cần phải biết những định lý căn bản.
    Đây chỉ là một mớ tài liệu về khoa học của tâm hồn mà chúng tôi ước mong
    rằng nó sẽ giúp cho những ai muốn tìm hiểu bài giải về cá tính con người.
     

    CHƯƠNG II - NHỮNG PHƯƠNG PHÁP CỦA
    TÂM LÝ HỌC
       

    Đi xem một cuộc triển lãm hội hoạ, chúng ta nhận thấy các bức tranh trưng
    bày chẳng những khác nhau về đề tài, về khuôn khổ mà còn khác nhau rất
    nhiều về sắc độ. Bức thì màu sắc rực rỡ, bức lờ mờ, hoặc lộng lẫy, hoặc vui
    hoặc buồn. Có bức thì đơn sắc, có bức lại gồm có nhiều màu sắc đối chọi
    nhau một cách ngộ nghĩnh, có bức hình dáng chẳng khác gì một tấm thảm.

    Tuy thế, tất cả những bức tranh ấy đều đặng tạo nên với một ít màu chính,
    lúc nào cũng thế.


    Cá tính của con người cũng giống như các bức tranh nói trên. Tuy nó hiện
    ra dưới bao nhiêu sắc thái nhưng tựu trung nó cũng chỉ đặng tạo nên bởi
    một ít bẩm màu căn bản. Chính sự phối hợp vô cùng phức tạp của những
    bẩm chất này đã làm cho có sự khác nhau giữa loài người, làm thành bao
    nhiêu hạng người.


    Tâm lý học nhằm hai mục tiêu: Tìm xem đâu là những bẩm chất cốt yếu của
    con người và sau khi đã định rõ giá trị mỗi bẩm chất ở một người, sẽ tiên
    đoán thái độ, lối xử sự của người ấy.



     


    Hai cá tính của con người:




    Từ lâu rồi người ta đã ngờ ngợ rằng những yếu tố cấu thành cá tính con
    người có thể phân làm hai loại. Người ta nhận thấy một cách mơ hồ rằng
    trong thâm tâm của mỗi người đều có một cái gì vững vàng, suốt đời không
    thay đổi và bao phủ trên cái cái phần ấy, như một cái mặt nạ, còn có một cá
    tính khác, uyển chuyển hơn, biến hóa hơn, lại chịu ảnh hưởng của những
    biến cố bên ngoài.



    Một trong những thắng lợi của tâm lý học hiện giờ là đã chỉ định một cách
    rõ rệt rằng trong mỗi người đều có hai cá tính.


    Lúc chào đời chúng ta mang sẵn trong người cái cá tính thiên nhiên.
    Những yếu tố của nó làm nòng cốt cho cái khí chất và cái trí tuệ của chúng
    ta. Cái cá tính thứ nhì được gọi là cá tính tập thành bởi nó được kết thành
    do những hiện tượng bên ngoài, do tất cả những biến cố của đời sống.


    Đôi khi các nhà khoa học cũng gọi nó là “bản ngã căn bản”, “bản ngã ngoại
    diện”. Nhưng chúng ta xin miễn dùng những tiếng “lóng” ấy và chỉ có thể
    nói một cách giản dị là mỗi người khi sinh ra đời đều có nhận được một số
    dụng cụ hoặc tốt hoặc xấu, đó là cá tính thiên nhiên. Dưới ảnh hưởng của
    những hiện tượng đời sống, họ sẽ dùng những công cụ ấy để xây dựng cá
    tính tập thành.


    Bây giờ chúng ta hãy xem xét cái cá tính thiên nhiên ấy làm bằng những gì?
    Lúc sinh ra đời, chúng ta đã nhận được những dụng cụ gì? Những bẩm chất
    nào là những bẩm chất căn bản? Bao nhiêu câu hỏi mà bấy lâu nay người ta
    không tìm ra lời giải.


    Tuy thế, từ lúc nào cũng như lúc nào, con người luôn luôn muốn tìm hiểu lý
    do những hành động của mình. Họ tự dò la, khảo sát, tự thú. Họ đã ghi chép
    kết quả của những cuộc khảo sát này trong bao nhiêu sách vở: tiểu thuyết,
    ký sự, khái luận, khảo cứu và thu thập rất nhiều tài liệu song chẳng đi đến
    một kết quả khả quan nào. Không thể xếp thành loại mớ tài liệu ấy, cũng
    không thể rút ra những quy tắc tổng quát. Ngay việc đặt để và định nghĩa
    các danh từ, những tác giả cũng chưa đồng ý thay. Việc dùng “phương pháp
    nội quan” để tìm hiểu tâm lý con người đã thất bại.


    Vì sao? Bởi khi người ta chỉ trông qua một bức tranh thì không tài nào có
    thể phân định những màu căn bản mà họa sĩ đã dùng để vẽ bức tranh ấy.
    Hẳn thí dụ rằng loài người chưa biết thuật hội họa. Có thể nào qua một bức
    tranh chúng ta phân tách nổi trong bức tranh ấy có bao nhiêu chất màu
    xanh, và cách phân phối màu xanh ấy ra sao? Chúng ta có biết màu xanh là
    màu căn bản chăng? Chắc là không, cho đến khi chúng ta tìm ra một
    phương pháp có thể làm nổi bật ra một màu này hoặc một màu khác trong

    bảy màu của cầu vòng. Lúc bấy giờ chúng ta mới rõ: chỉ có bảy màu chính,
    bảy màu căn bản, cách phân phối những màu ấy ra sao, và chúng ta biết rõ
    tất cả các sắc do sự pha trộn của hai hoặc nhiều màu trổ ra.


    Cách nhà tâm lý học hiện giờ đã tìm ra một thứ “thuốc thử” na ná như thể
    để phân tách rõ rệt những yếu tốt tạo thành cá tính con người. Thuốc thử đó
    là bệnh điện.






    Thuốc thử của bệnh điên:



    Nếu khoa học tâm lý về con người ngày nay đã có một nền tảng vững
    chắc đó là nhờ công trình của nhiều nhà chuyên về bệnh tinh thần như
    Ernest Dupré chẳng hạn và nhất là nhờ những phát minh của hai nhà bác
    học: Giáo sư F. Achille Delmas, một tâm y sĩ có tiếng và giáo sư Marcel
    Boll, một nhà khoa học mà cũng là một nhà văn, một nhà phê bình nhiều
    người biết đến.

    Họ đáng cho chúng ta ghi ân. Chính họ là những người sáng tạo ra nền tâm
    lý học tân thời. Chẳng những họ đã lập ra một lối phân loại rất hợp lý về
    các bẩm chất căn bản của cá tính con người, ngoài ra họ cũng là những
    người đầu tiên đã phân biệt có hai loại tâm lý học: Một thứ tâm lý học tịnh
    khảo sát về cá tính thiên nhiên và các tính tập thành. Một thứ tâm lý học
    động khảo sát về lối cư xử, thái độ của con người. Nói một cách khác, có
    thứ tâm lý học chuyên khảo xét về các bộ phận của guồng máy lại có thứ
    chuyên khảo về cách vận dụng của guồng máy ấy.


    Chính tôi đã căn cứ trên lý thuyết của hai nhà khoa học ấy để xây dựng cái
    nền tảng vững chắc của sách này, và trong bao nhiêu áp dụng mà tôi đã đề
    cập trong sách này tôi chưa hề thấy lý thuyết ấy sai chạy ở một điểm nào.
    Muốn hiểu rõ tại sao người ta có thể dùng người điên để phân tích tâm trí
    của người có đủ lý trí, chúng ta cần hiểu qua về những chứng bệnh tinh thần
    và cách xếp loại của nó.


    Xưa kia người ta không biết gì về bệnh điên cả. Thấy người nào nói xàm
    nói nhảm hoặc có những hành động kỳ dị, người ta cho rằng họ điên hoặc
    khùng, không hơn không kém. Tuy rằng người ta đã nhận thấy có nhiều

    chứng cuồng tâm, loạn óc song không ai buồn nghiên cứu những bệnh ấy.
    Cho đến cuối thế kỷ XVIII người ta vẫn còn xem những người điên như
    loài ác thú, người ta cùm xích họ lại, họ sống một đời sống đáng thương
    hại.


    Đến đầu thế kỷ XIX, mới có một nhà y sĩ từ tâm biết nghiêng mình xuống
    số phận hẩm hiu của những người bạc phúc ấy. Đó là ông Pinel. Ông đã kéo
    họ ra khỏi chốn cực hình, đã bắt đầu nghiên cứu về họ một cách hợp lý.


    Suốt thế kỷ gần đây, nhiều người khác đã tiếp tục việc khảo cứu này và
    ngày ngay, khoa tâm y học tức là khoa học nghiên cứu về các chứng bệnh
    tinh thần đã tiến bộ một cách khả quan. Những công cuộc nghiên cứu liên
    tục này đã giúp người ta tìm ra một lối xếp loại rất quan trọng: Phân chia
    các chứng bệnh tinh thần ra làm hai nhóm riêng biệt: Những bệnh do
    thương tích gây ra và những bệnh do thể tạng tức là do sự cấu thành
    của thể chất tạo nên.




     


    Những bệnh điên do thương tích gây ra:



    Những bệnh điên do thương tích có những đặc điểm cốt yếu sau đây:


    Con bệnh luôn có những vết thương trong óc, người ta tìm thấy những vết
    thương này khi mổ thây người chết để khám nghiệm.


    Có thể đây là một chứng bệnh tập thành chứ không phải do thiên bẩm, vì
    những vết thương này phát ra sau khi con người đã sinh ra hoặc nếu sớm
    hơn, thì cũng là khi bào thai đã tượng hình.


    Tùy theo vết thương có tính chất vĩnh viễn hay tạm bợ, người ta sẽ chia
    những bệnh do thương tích này làm hai loại:


    Loại đầu gồm những chứng mất trí, ngu đần, động kinh, bất toại, điên
    cuồng, lẩm cẩm vì già nua. Loại sau gồm những bệnh điên phát sinh bởi
    một vết thương hoặc một chất độc (rượu, thuốc phiện v.v…).



    Những bệnh này thường đều bất trị, trừ những bệnh thuộc loại thứ hai và ở
    trường hợp mà chất độc chỉ gây những thương tích nhẹ.



     


    Những bệnh điên do thể tạng gây ra:



    Những bệnh tinh thần thuộc nhóm thứ hai, tức là những bệnh điên do
    thể tạng sinh ra, mới đáng cho người muốn nghiên cứu về tâm lý học quan
    tâm hơn.
     

    Những bệnh thuộc nhóm này có hai thuộc tính:


    Nó do thiên bẩm. Mầm gốc những chứng bệnh ấy đã sẵn có trong người
    con bệnh từ lúc họ mới lọt lòng. Rất có thể và thường khi như thế, bệnh ấy
    chưa phát triển đầy đủ lúc con bệnh còn thơ ấu, bởi sự phát triển ấy có thể
    hoặc sớm hoặc muộn, tuy nhiên người ta luôn luôn nhận thấy điều này là
    những bệnh ấy do thể tạng của con bệnh tức là do cơ cấu thể chất mà họ có
    sẵn từ lúc họ ra chào đời. (Giáo sư F. Achille Delmas định nghĩa cơ cấu tâm
    bệnh như thế này: Đó là một nhóm xu hướng tâm thần nhất định, thuộc cá
    tính thiên nhiên của con bệnh, phát triển lúc người ấy mới sinh ra, và suốt
    đời họ, bộc lộ bởi những phản ứng mạnh hay yếu… nó có thể đi đến những
    chứng bệnh thần kinh tuần hoàn, thuyên giảm trong chốc lát hoặc tiệm tiến
    (nghĩa là bệnh điên phát triển trong một thời kỳ gần hay xa hoặc tuần tự mà
    tiến). – Bài phúc trình về tâm bệnh học ở hội nghị Limoges, từ ngày 25 đến
    30 tháng 7 năm 1932.


    (Còn vấn đề: Bằng cách nào và do đâu bệnh điên có thể phát sinh từ một cư
    cấu tâm bệnh thì người ta chỉ hiểu lờ mờ. Trong bản phúc trình nói trên,
    giáo sư Delmas chỉ thử tìm cách giải).




    Những con bệnh này không mang vết thương tích nào trong óc cả. Khi
    người ta khám tử thi một người bệnh điên thuộc nhóm này, người ta thấy óc
    họ chẳng khác gì óc một người lành mạnh. Rất có thể sự giống nhau ấy chỉ
    có ở mặt ngoài, còn nếu có chỗ khác nhau thì những phương tiện tìm tòi

    hiện giờ cũng chưa cho phép chúng ta nhận thấy những đặc điểm của các
    khối óc bệnh hoạn ấy.


    Điều quan trọng cũng là điều cốt yếu trong việc nghiên cứu của chúng ta là
    những chứng bệnh ấy chỉ là sự lệch lạc, sự phát triển quá độ hoặc sự khuyết
    kém những yếu tố căn bản tạo thành cá tính của một người lành mạnh.


    Ở người lành mạnh, những yếu tố ấy pha trộn, phối hợp lẫn nhau một cách
    điều hòa khó lòng cho chúng ta phân biệt.


    Ở những con bệnh tinh thần trái lại tính cách bất thường của những yếu tố
    ấy làm cho nó nổi bật lên trên cá tính, nhờ đó chúng ta rất dễ thấy.


    Vì thế chúng ta có thể dùng những bệnh “điên” thuộc nhóm sau này như
    một thứ “thuốc thử” mà chúng tôi đã nói ở trước. Một khi có thể phân biệt
    và xếp những chứng bệnh ấy thành loại thì chúng ta cũng đã biết rõ có bao
    nhiêu bẩm chất căn bản tạo thành cá tính con người. Công trình nghiên cứu
    của hai ông F. A Delmas và M. Boll là đã xác định lối phân loại ấy.



     

    CHƯƠNG III - NHỮNG CHỨNG BỆNH TINH
    THẦN DO THỂ TẠNG GÂY RA
       

    Có thể chia những bệnh này làm ra năm loại. Dưới đây chúng ta sẽ nghiên
    cứu riêng từng loại.



     


    Chứng cuồng vọng (paranoia):




    Loại này là do sự cuồng vọng của óc đòi hỏi gây ra, y học gọi nó là
    bệnh paranoia, nhưng xét theo nguồn gốc thì danh từ này đặt chưa thật xác
    nghĩa, bởi theo tiếng Hy Lạp thì paranoia có nghĩa là “lý luận lạc đề”.


    Chúng ta cứ gọi là bệnh “cuồng vọng” cho dễ hiểu.


    Người bị cuồng vọng luôn luôn đòi hỏi hơn những quyền lợi hoặc quyền
    hạn mà họ có. Họ tự ban cho mình những tài sản phi thường, tự đặt cho
    mình những tước vị không thể tưởng tượng. Họ mong chờ những gia tài
    kếch sù, tự xưng là vua là hoàng đế đôi khi là Thượng Đế. (Ông N. P. Thiên
    vương nào đó mà vừa rồi báo chí có nói đến, đã tự gán cho mình ba cấp
    bằng thạc sĩ và tự xưng là hoàng đế Việt Nam, rõ là một con bệnh cuồng
    vọng (1956).


    Và đương nhiên họ không bao giờ đoạt được những gì mà họ tưởng rằng họ
    phải có, hoặc có quyển hưởng, nên họ đâm ra bất mãn, tưởng rằng mình bị
    ngược đãi hoặc bị những kẻ thù tưởng tượng ám hại. Sự cuồng loạn của tinh
    thần bị ngược đãi là kết quả đương nhiên của bệnh cuồng vọng.


    Những con bệnh cuồng vọng này cũng như những con bệnh sẽ được kể
    dưới đây, mới xét ra chúng ta không thấy vẻ gì tỏ ra là người cuồng trí,
    nhưng họ có thể trở nên nguy hiểm. Bởi như đã nói trước, họ cho rằng nỗi
    khổ tâm, những thất vọng của họ là do những kẻ thù địch vô danh gây ra, và

    một ngày kia họ có thể nhận thấy kẻ thù địch ấy ở một cá nhân hoặc ở
    những người nà...
     
    Gửi ý kiến

    Văn hóa đọc sách không đơn giản là thói quen, nó bao gồm cả sự yêu thích và kỹ năng đọc hiểu một cuốn sách

    KÍNH CHÀO QUÝ THẦY CÔ VÀ QUÝ BẠN ĐỌC ĐÃ ĐẾN TƯỜNG WEBSITE CỦA THƯ VIỆN TRƯỜNG THCS TÂN XUÂN - HÓC MÔN - HỒ CHÍ MINH!